Nguyễn Xuân Diện: 2009 - chiều cuối năm nhìn lại

Năm 2009 đã khép lại. Chiều cuối năm, lắng lòng suy ngẫm về một năm qua về những được mất, thăng trầm, những may rủi, vui buồn của cá nhân mình, và xung quanh mình. Trong không gian yên tĩnh của một buổi chiều cuối năm, hồi tưởng lại năm qua, mà tưởng như nghe bốn bề ba động. Tự mình điểm lại những chuyện, những việc diễn ra trên đất nước mình một năm qua đã được ghi vào trí nhớ của mình, vội ghi mấy hàng để nhớ về năm hai lẻ chín của thiên niên kỷ này.

1. Thứ nhất phải kể đến việc nêu ý kiến phản biện các dự án khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Từ việc chỉ có 135 nhà trí thức tinh hoa ký tên. Bức kiến nghị đã nhanh chóng được lan truyền trên mạng internet, và được sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân trong cả nước kiều bào ở nước ngoài.

Chưa có bao giờ một tâm tư nghĩ suy của một nhóm người đã nhận được sự hưởng ứng mạnh mẽ đến như vậy. Những nhà trí thức và nhà văn hóa đã dành nhiều thời gian và tâm huyết để phân tích những hơn thua của dự án và gióng lên những cảnh báo về vấn đề này, trên nhiều phương diện: kinh tế, kỹ thuật công nghệ, an ninh, quốc phòng, văn hóa, xã hội…Lời nào cũng là lời gan ruột được viết ra bằng cả lý trí lẫn tình cảm, mỗi lời đều là những góp ý chân thành, tha thiết, xây dựng. Thật mừng vì đất nước ta có một đội ngũ trí thức nhiệt tâm và luôn sát cánh với những vấn đề lớn của quốc gia như vậy!

Trang thông tin Bauxite Việt Nam chỉ trong một thời gian ngắn đã có tới 17,5 triệu lượt truy cập là minh chứng cho thấy người dân Việt Nam con Lạc cháu Hồng trăn trở, tha thiết với đất nước như thế nào. Mỗi khi trang này trục trặc kỹ thuật là lại một lần xôn xao trong giới trí thức và giới trẻ, cứ như nó là một phong vũ biểu của một mảng đời sống tinh thần Việt Nam.

2. Sự tham gia của trí thức vào các công việc nước nhà còn thể hiện bằng những bài báo về các vấn đề lớn của đất nước. Từ những chuyên gia hàng đầu của đất nước về kinh tế như Nguyễn Trung, Phạm Chi Lan, Nguyễn Quang A đến những chuyên gia về giáo dục như Hoàng Tụy, Nguyễn Xuân Hãn, Nguyễn Lân Dũng rồi các chuyên gia về văn hóa như Nguyên Ngọc, Phan Cẩm Thượng. Từ những vị tướng đầu bạc như Võ Nguyên Giáp, Lê Văn Cương, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đồng Sỹ Nguyên, đến những nhà trí thức trẻ như Vũ Minh Khương, Hoàng Thúc Hào, Giáp Văn Dương…

Nhưng đông đảo nhất vẫn là những nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nghệ sỹ. Thông qua các trang blog cá nhân, họ công bố tác phẩm, và bình luận về thời sự, góp ý đến những người có trách nhiệm. Nhiều trang tin nhanh, nhạy và có tiếng nói phản biện sắc sảo, xây dựng.

Bảy bức thư của nhà văn Nguyễn Quang Thiều đã vẽ lên bức tranh nông thôn Việt Nam với nhiều điều làm chúng ta phải trăn trở suy nghĩ khi sự thật được phơi bày và những dự báo đang trở thành sự thật.

3. Năm 2009, vấn đề Biển Đông đặc biệt được con dân đất Việt quan tâm, bất kể là người trong nước hay đồng bào ta đang ở nước ngoài. Biển Đông diễn biến càng ngày càng phức tạp. Biển Đông – một nửa cơ ngơi của tổ tiên ta để lại cho con cháu, bằng cả máu xương và tâm huyết. Đáng kể nhất phải kể đến những cố gắng của Học viện Ngoại giao (Bộ Ngoại giao Việt Nam) đã tổ chức được một hội thảo quốc gia, một hội thảo quốc tế về vấn đề Biển Đông. Kết quả là, tại hội thảo quốc tế về Biển Đông đã thu hút sự tham gia của đông đảo học giả quốc tế đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ. Đường lưỡi bò do Trung Quốc đưa ra được chỉ ra chỉ là một sự vẽ vời vô căn cứ cả về pháp lý lẫn lịch sử.

Hội thảo quốc gia Biển Đông đã đưa ra được những khuyến nghị có giá trị, trong đó đặc biệt nhất là đề xuất việc lập hồ sơ pháp lý khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa đưa ra pháp đình quốc tế; đề xuất 4 hóa đối với vấn đề Hoàng Sa – Trường Sa là: quốc tế hóa, công khai hóa, xã hội hóa và phi nhạy cảm hóa.

Trung Quốc càng ngày càng tỏ rõ ý chí quyết biến Biển Đông thành ao nhà. Họ không từ một thủ đoạn nào! Hơn 85 tàu cùng hơn 1.062 ngư dân của các làng chài huyện đảo Lý Sơn đã bị Trung Quốc bắt giữ, cướp tài sản, đánh đập khi đang đánh bắt trên vùng biển Hoàng Sa, thuộc chủ quyền của Việt Nam từ năm 2002 đến nay. Ngoài bắt giữ người, thu tàu, cướp tài sản, đánh đập ngư dân, phía Trung Quốc còn bắt ngư dân nộp phạt hơn 2,5 tỷ đồng và đã bắn bị thương 1 người…Đó là con số thống kê chưa đầy đủ của Văn phòng UBND huyện đảo Lý Sơn.

Liên tiếp từ tháng 4 đến nay, dòng họ Đặng ở Lý Sơn hay nhà nghiên cứu Phan Thuận An ở Huế đã hiến tặng cho Nhà nước những tài liệu đặc biệt quý giá góp phần khẳng định chủ quyền của VN ở biển Đông nói chung và Hoàng Sa - Trường Sa nói riêng. Điều đó thể hiện ý thức trách nhiệm của người dân với đất nước, tổ tiên, làm nức lòng đồng bào cả nước và kiều bào ở nước ngoài. Những văn bản quý giá đó thể hiện ý chí của tổ tiên chúng ta về chủ quyền biển đảo. Còn hậu thế thì phải làm gì đây?

4. Về văn hóa nghệ thuật, phải kể đến tình hình đạo văn, đạo nhạc, đạo công trình nghiên cứu ngày càng trở nên phổ biến của những người muốn trục lợi, cầu danh trên những tâm huyết của những nhà nghệ sỹ, trí thức chân chính. Điều đáng buồn hơn là không thấy cơ quan hữu trách nào có được các chế tài đủ mạnh để dẹp được căn bệnh trầm kha này, khiến cho chúng ta không thể yên lòng được, khi học phong và giới trí thức – được coi là tinh hoa của xã hội đang sa sút nghiêm trọng.

Nếu Ban Tuyên giáo trung ương, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch, Bộ Thông tin truyền thông, Viện Khoa học xã hội Việt Nam và hai Đại học quốc gia Hà Nội và TP Hồ Chí Minh không quyết tâm lập lại trật tự thì đây là một điều đáng xấu hổ cho văn hóa và khoa học nước nhà. Rất mong ông Tô Huy Rứa, 2 ông Bộ trưởng Hoàng Anh Tuấn, Lê Doãn Hợp, ông Đỗ Hoài Nam và 2 ông Giám đốc hai đại học quốc gia ở hai đầu đất nước quan tâm đến vấn đề này.

Giải pháp cho vấn đề này là tác phẩm, công trình đạo văn sẽ bị đưa ra khỏi các thư viện, không phát sóng; nếu là giáo trình thì không được dùng giảng dạy; nếu nhờ nó mà người nào được phong học hàm học vị thì tước bằng, tước học vị; quan chức đạo văn thì cách chức ngay lập tức. Bên cạnh đó, đối với luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ cần được đưa công khai toàn văn lên mạng internet (đây cũng là 1 đề tài khoa học cấp Bộ ở Viện KHXH Việt Nam đề cương đã được bảo vệ qua nhiều hội đồng ngành, nhưng cuối cùng không hiểu vì sao chính Chủ tịch Viện KHXH Việt Nam đã bác bỏ).

5. Năm 2009 cũng đã xảy ra nhiều chuyện liên quan đến các cơ quan báo chí và văn hóa. Đó là trang báo Điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã đăng những tin tức của báo Trung Quốc nhằm khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa của Trung Quốc. Kết quả là TBT. Đào Duy Quát phải nộp phạt 30 triệu đồng. Sau đó, số báo chào mừng ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, báo Phụ nữ Tp. Hồ Chí Minh đã đăng bài Những chú lính trên sân ga của nhà văn Dạ Ngân bằng minh họa hải quân Trung Quốc khiến cho dư luận vô cùng bức xúc.

Liên quan đến vấn đề này, sự phẫn nộ của cộng đồng mạng lên đến đỉnh điểm khi phát hiện trang web của Bộ Công thương đã để cho trang mạng của mình thành nơi người Trung Quốc tuyên truyền chủ quyền của họ đối với Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa.

Gần đây nhất, nhân kỷ niệm 65 năm Ngày thành lập QĐND Việt Nam xuất hiện pano hình ảnh lính Trung Quốc đi dưới lá cờ Việt Nam. Sau đó, TS. Nguyễn Thành Rum GĐ Sở Văn hóa Thể thao & du lịch Tp. Hồ Chí Minh đã trả lời PV của RFA bằng những lời lẽ ngây thơ và thiếu trách nhiệm, khiến cho cộng đồng mạng rất phẫn nộ.

Bên cạnh đó, việc để quá nhiều phim Trung Quốc chiếm sóng trên khắp các đài truyền hình từ trung ương đến địa phương cũng làm những người yêu nước chạnh lòng. Cuốn Ma Chiến hữu – một tác phẩm hạng xoàng của Mạc Ngôn được lưu hành với đề từ và cách P.R thiếu hiểu biết và non kém về cả văn học lẫn chính trị của nhà xuất bản Văn học cũng khiến dư luận xôn xao. Và rồi hôm qua, lại một sai sót kinh hoàng vừa được phát hiện trong một cuốn Từ Điển cũng do nhà xuất bản Văn học ấn hành năm 2008. Thật không thể hiểu làm sao nữa!

Điều đáng buồn là những vụ việc tày trời nêu trên đều được phát hiện bởi các blogger và cộng đồng mạng. Họ không ăn lương của ai, việc làm của họ là nhằm thể hiện lòng yêu nước.

Cũng năm 2009, chưa có bao giờ các báo điện tử lại phải gỡ bài nhiều như thế! Có những bài vừa đưa lên vài giờ đã phải gỡ xuống. Có báo một ngày phải gỡ bỏ 2 bài.

6. Năm 2009 với các dự án, công trình Kỷ niệm Đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội luôn nằm trong sự quan tâm của cán bộ và nhân dân thủ đô, nhân dân cả nước. Tuy nhiên, cho đến nay, nhiều việc còn dở dang và không thể hoàn thành đúng tiến độ.

Dự án làm phim Lý Công Uẩn đành gác lại vì nhiều lý do, nay chuyển sang làm phim Trần Thủ Độ. Việc chọn làm phim Trần Thủ Độ như một lễ vật kỷ niệm 1000 năm Thăng Long thật sự là một tối kiến của các nhà làm phim, và chủ đầu tư dự án. Vì ai cũng biết lễ kỷ niệm 1000 năm có điểm nhấn là vương triều Lý. Trớ trêu thay, theo chính sử thì chính Trần Thủ Độ đã chủ trương tận diệt nhà Lý bằng một việc làm không thể nói là có đạo đức. Hà Nội đem phim Trần Thủ Độ làm lễ vật mừng Thăng Long ngàn tuổi chẳng khác Huế đem diễn hoạt cảnh cành đào báo tiệp Ngọc Hân mừng Quang Trung hoàng đế ngay trước Ngọ Môn Huế tại Festival vừa rồi.

Cũng trong năm 2009, hàng loạt báo chí đã phản ánh các khía cạnh khác nhau về con đường gốm sứ - một con đường từng được giới nghệ sĩ và nhân dân nức lòng, được sự ủng hộ nhanh chóng của chính quyền các cấp và nhân dân thành phố, đã đi lạc đường.

Thủ đô nhếch nhác bụi bặm, ngập lụt sau mỗi trận mưa, giao thông ách tắc, nhà siêu mỏng mọc lên ở nhiều nơi, chặt phá cây xanh (kể cả cây gỗ sưa), bao nhiêu lệnh cấm thành ra đánh trống bỏ dùi khiến người nào tự tin cũng không dám tin đô thị Hà Nội năm 2010 sẽ khuôn mặt mới khả ái. Hà Nội vẫn tự hào là đất thanh lịch, nhưng sự kiện phố hoa của giới trẻ đã khiến cho cả nước phải nghĩ lại. Ngày mai, 31.12 là lễ hội hoa Hà Nội, sẽ ra sao đây? Thực sự, vẻ đẹp thanh lịch của người Hà Nội gốc đang cần được tìm lại, vun đắp.

Cuộc sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội một cách vội vàng (từ đề xuất đến tiến hành chưa đầy 5 tháng) đã khiến cho khuôn mặt văn hóa của Hà Nội xô lệch. Nhiều người đã từng lo lắng mấy năm nữa, cả Hà Nội rộng lớn sẽ lanh tanh bành mà việc sửa chữa nó sẽ phải mất nhiều chục năm sau nữa. Ngay như việc chọn trung tâm hành chính của thủ đô ở đâu, thì hiện nay cũng đang “rối như canh hẹ”(trong 3 tháng mà chủ tịch thành phố đưa ra 3 địa điểm khác nhau). Ngay như việc Thủ tướng đã quyết định chọn Mỹ Đình làm trung tâm hành chính, thì cũng cần xem xét cân nhắc thêm, vì theo tính toán của KTS Trần Thanh Vân, Mỹ Đình chính là một cái rốn nước (muốn xây dựng ở đây, cần phải có một hệ thống hồ 1000 héc-ta thì mới không lo “Hồ Tây tràn ra Mỹ Đình”, trong khi những hồ xung quanh đã bị lấp đi đến 70%), hơn nữa Mỹ Đình không “gối núi trông sông” theo quan niệm phong thủy.

7. Phát biểu của các quan chức được đưa vào mục "Phát ngôn ấn tượng" được điểm mỗi thứ Sáu hàng tuần của báo điện tử VietnamNet.

Những người có phát ngôn ấn tượng được điểm mặt kể tên thuộc đủ mọi ngành, ở rất nhiều chức vụ cao thấp khác nhau, trở thành nỗi lo lắng và sự đàm tiếu của dư luận. Không hiểu các trường đào tạo về hành chính cho cán bộ có dạy kỹ năng và cách xuất hiện, phát biểu trước công chúng?

Phát ngôn của quan chức nhiều khi bộc lộ nhiều vấn đề mà người dân chưa biết; lại cũng nhiều khi bộc lộ trình độ cũng như sự vô cảm của quan chức đối với các vấn đề xã hội. Có những phát ngôn ấn tượng được dư luận đem ra đàm tiếu, buồn cười đến không ngờ được! Vậy mà không thấy những người phát ngôn đó nói lại, chứng tỏ báo chí đã tường thuật đúng!

8. Báo động về sự xuống cấp của đạo đức con người. Qua báo chí, chưa bao giờ người ta được xem các vụ tường thuật nhiều vụ giết người như năm 2009. Từ các vụ giết tình nhân (vụ giết người trên chiếc xe Luxes sang trọng) đến vụ con giết cha rồi chặt khúc vứt xuống sông hồ. Từ việc người vợ dùng chiếc kim khâu lốp dài gần 10cm đem từ Đông Anh lên Thái Nguyên để đâm vào giữa đỉnh đầu đứa con riêng của chồng vừa được 40 ngày tuổi đến các vụ giết người đốt xác rùng rợn.

Các vụ giết người càng ngày càng man rợ. Tuổi của các hung phạm ngày càng trẻ. Điều này cho thấy cần phải xem lại về cách chúng ta giáo dục con người trong nhà trường, gia đình và trong xã hội.

Chúng ta cần phải xem lại rằng con em chúng ta đã được giáo dục về đạo đức, về lòng yêu thiên nhiên và loài vật, yêu gia đình và bè bạn như thế nào trong các trường học. Môn giáo dục công dân đã được dạy như thế nào? Hay nó chỉ là những bài học thuộc lòng như vẹt?

9. Năm 2009, ghi nhận nhiều sự kiện về Di sản văn hóa Việt Nam. Có 3 di sản của Việt Nam được UNESCO ghi nhận là Di sản thế giới: Quan họ - Ca trù – Mộc bản triều Nguyễn. Trong đó, ca trù được ghi vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.

Nhưng năm qua lại cũng rộ lên chuyện đua nhau làm hồ sơ di sản UNESCO. Các tỉnh đua nhau họa ra một cái hồ sơ để đưa đi xin danh hiệu. Nào hang nào động, nào hát nào ca. Hồ sơ đề cử Hoàng thành Thăng Long của Hà Nội đã được thế chỗ bởi Hội Gióng.

Năm qua, việc tu bổ trùng tu tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa cũng được báo chí đưa tin rầm rộ. Bức tử đền Và (Sơn Tây), khai tử Suối Giải Oan (Yên Tử), tu sửa đền Bà Tấm, chùa Trấn Quốc, đình Kim Liên…là những vụ được dư luận quan tâm nhiều.

Chúng ta có yêu văn hóa của ông cha thật không? Hay là chỉ yêu các dự án đó? Lập các dự án về văn hóa có bao nhiêu phần trăm vì văn hóa thật sự, hay là vì sự chấm mút? Ngay như Huế, đồn rằng biết giữ lắm, vậy mà hình như chỗ Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế của ông Phùng Phu, ông Phan Thanh Hải cũng chỉ chăm chú thu tiền thôi! Đoàn làm phim truyện đến quay bối cảnh là lăng Đồng Khánh, em cứ xin bác 20 triệu một ngày, quay bao lâu thì quay, cứ thế trả tiền. Đoàn cán bộ Viện Hán Nôm có công văn đề nghị in rập văn bia để lưu trữ và nghiên cứu, mà họ khăng khăng không cho rập để bảo vệ văn bia, mặc dù đã nhờ đến Phó Chủ tịch tỉnh, kêu đến Cục trưởng Cục Di sản văn hóa Nguyễn Thế Hùng, rồi ông Chủ tịch UB quốc gia UNESCO Việt Nam Phạm Sanh Châu. Thế mới biết ông Phu ông Hải chả khác gì ông vua con! Ấy vậy mà bia đá Thơ ngự chế của vua Thiệu Trị thì sắp lộn cổ xuống Ngã Ba Tuần, còn phế tích Võ Miếu (Võ Thánh) thì chỉ còn năm tấm bia đá trơ gan cùng tuế nguyệt “đã không kẻ đoái người hoài”, “lại không cho cắm một vài nén nhang”! Văn Miếu Huế cũng vậy, những cọc bê tông giơ sợi sắt nghều ngào như cào vào trời chiều Hương Giang ứa lệ. Nghệ nhân nghệ sỹ Huế lão thành đang thoi thóp xếp hàng đi xuống ga Hoàng Tuyền, mà cũng chẳng ai đoái tưởng. Huế có yêu Huế thật lòng chăng?

Liên quan đến di sản văn hóa, có lẽ cũng phải kể đến hai “kiệt tác” văn hóa mới ở hai đầu đất nước là Chùa Bái Đính và Đại Nam quốc tự. Mỗi nơi mỗi vẻ, không giống nhau và không giống ai, nhưng vì thế mà được từ quan chí dân nô nức kéo về chiêm ngưỡng. Liên quan đến di sản, chúng ta còn quá coi thường di sản văn hóa, khi cứ đem sân khấu hóa hoặc làm lệch lạc các lễ hội truyền thống (Liên hoan Cồng chiêng, Lễ hội đền Lảnh Giang, lễ hội Tịch điền cùng hàng trăm lễ hội tốn kém khác).

10. Năm 2009 cũng là năm có nhiều chuyện về các mạng xã hội. Cuối cùng sau nhiều lần “chết hụt”, Yahoo! 360 chính thức vĩnh biệt cộng đồng blogger vào ngày 13/7. “Cái chết” này đã được dự báo trước từ lâu nhưng nó vẫn thực sự gây sốc cho cộng đồng mạng. Các cuộc chuyển nhà, nhận họ hàng, bè bạn và người thân trong thế giới mạng diễn ra sôi động.

Khi Facebook được nhiều người chọn vì tính tương tác của nó trong cộng đồng thì cũng là lúc nó bị trục trặc một cách bí hiểm vào đầu quý IV năm 2009. Một tâm lý bất an đã và vẫn đang thường trực trong cộng đồng sử dụng mạng xã hội tại Việt Nam.

* * *

Xuân Canh Dần đang sắp sửa! Bao nhiêu việc đang bày trước mắt. Ngổn ngang trăm mối bên lòng!

Ta là một “bạch diện thư sinh” suốt ngày quẩn quanh với thư tịch cổ, tự thẹn với mình không làm được điều gì cho đời, văn chương chữ nghĩa viết ra cũng chỉ để vui bạn vui bầu chứ tuyệt nhiên không có dòng nào có hơi hướm gì đáng gọi là kinh bang tế thế. Thôi thì, việc mình mình biết, lòng và chí chỉ biết tâm niệm câu này:

Thương nước, khơi sâu nguồn sử nước
Yêu đời mở rộng mạch văn đời.

Khơi đỉnh hương trầm. Nối thêm ngọn sáp. Ngào ngạt ngọn khói hương dâng. Nao nao mối sầu thiên cổ!

Sáng nay, mưa phùn đã dắt nhau xuống phố. Ngày mai Hà Nội mở lễ hội hoa. Khắp non sông trời đất giao mùa! Xuân bất tận đang về trên đất Việt!

Lâm Khang Nguyễn Xuân Diện cẩn bút

Hải quân Việt Nam + 6 Kilos

Feng's blog
Tazadeperla, X-Cafe chuyển ngữ
Lời người dịch:

Các bạn thân mến,

Trong số những blog về quân sự mà tôi thường theo dõi, có một blog rất lý thú của một người Trung Quốc có nick là Feng. Mặc dù thông tin cá nhân khá ít ỏi, nhưng những bài post của anh ta thể hiện một cách nhìn rất chuyên nghiệp.

Nhân đây, tôi dịch lại nguyên văn một bài post của anh ta về việc Hải quân Việt Nam mua 6 chiếc Kilos từ Nga.
Gần đây, Việt Nam đầu tư một món lớn tới 1.8 tỷ USDvào 6 chiếc tàu ngầm Kilo. Sau sự việc này, tôi đọc được vài bài báo ý nói rằng Việt Nam đang gửi thông điệp cho Trung Quốc bằng món đầu tư này. Vì thế, bài viết này sẽ đánh giá lại cuộc tranh đua trên biển Nam Hải giữa Trung Quốc và Việt Nam.

Tôi sẽ cố gắng đem đến cho các bạn cái nhìn chung về tranh chấp Trung - Việt. Tuy nhiên, cần nói trước là tôi không phải là chuyên gia trong cuộc nên xin thứ lỗi trước nếu tôi sai trong một số vấn đề.

Sau chiến tranh Việt Nam, quan hệ Trung Quốc - Việt Nam xấu đi, và Việt Nam trở thành đồng minh của Liên Xô bao vây Trung Quốc. Để dạy Việt Nam một bài học, Trung Quốc xâm lược Việt Nam vào năm 1979 và dù dạy được bài học ấy nhưng phải chịu đựng tổn thất nặng nề. Năm 1988, cả hai đã có đụng độ nhỏ trên các đảo tranh chấp ở Nam Sa. Cơ bản cho tới nay, cả hai nước vẫn còn tranh cãi về chủ quyền các hòn đảo và lãnh hải ở Nam Hải. Mặc dù quan hệ kinh tế đang tiến triển, nhưng căng thẳng biểu hiện trong chủ nghĩa dân tộc của cả hai quốc gia chưa chịu lắng xuống.

Không may cho Việt Nam, cán cân quân sự đã nghiêng hẳn về phía Trung Quốc kể từ 1988. Hồi đó, PLA chỉ có vài chiếc Ludas và Jianghu làm nhiệm vụ chiến đấu chủ lực ở Nam Hải, còn không quân không đủ sức hỗ trợ cho một hoạt động nào. Sau đó, Không quân đã cải biến loại H-6 để làm máy bay tiếp dầu để có thể hỗ trợ cho các hoạt động quân sự ở vùng này. 20 năm sau, Hạm đội Nam Hải trở thành viên ngọc trên mũ miện của Hải quân Trung Quốc, biểu tượng cho nỗ lực hiện đại hoá của Hải quân, đồng thời đội máy bay tiếp dầu mới có thể nới tầm tay của không quân.

Vậy Việt Nam đã làm gì để cải thiện trong những năm qua?

Suốt thập kỷ qua, họ chỉ quanh quẩn với vũ khí Nga. Vấn đề nữa là vùng tranh chấp này gần với Trung Quốc, nên nếu tranh chấp, họ sẽ phải đấu với cả Hải quân lẫn Không quân Trung Quốc. Những nước ở xa hơn, như Singapore, Malaysia và Australia thì xa quá, không quân với không tới, đều nguy hiểm hơn với Hải quân.

Với ngân sách 3.6 tỷ USD và nền kinh tế khó khăn, rõ ràng là Việt Nam không thể bì với PLA. Vì thế họ đang dùng đúng chiến lược mà PLA đang dùng để chống lại Hải quân Mỹ. Cơ bản là Việt Nam đang mua nhiều thuyền cao tốc nhỏ mang tên lửa tầm xa (ngoài ra không có món gì khác) và tàu ngầm ít tiếng ồn. Dĩ nhiên là với nguồn lực giới hạn, quy mô chiến lược của Việt Nam nhỏ hơn nhiều so với quy mô chiến lược của PLA. Trong vài năm gần đây, họ mua vài chiếc thuyền tuần duyên Molniya Project 12418 lắp tên lửa chống hạm Uran từ Nga. Những chiếc thuyền cao tốc này có thể phóng nhiều tên lửa cùng lúc, vì thế tôi nghĩ là chúng đóng vai trò y như lớp thuyền 022 trong Hải quân Trung Quốc, mặc dù chúng lớn hơn, chậm hơn, dễ phát hiện hơn và không được nối mạng tập trung. Họ cũng đặt hàng 2 chiếc tàu hộ tống Gepard Project 1166.1 (có thể nhiều hơn trong tương lai), là loại có vài khả năng tự vệ, mang được nhều tên lửa đối hạm hơn. Tôi cho rằng Việt Nam cũng đã mua ít nhiều tên lửa Yakhont từ Nga, nhưng không rõ những tên lửa này được phóng bằng hệ thống nào.

Việt Nam cũng mua của Nga 12 chiếc SU30MK2, mang được nhiều loại tên lửa đối không - đối hải đời mới, mà tôi nghĩ là ngoài số 12 SU27 và 4 chiếc SU30MK2 đã có. Tuy nhiên tôi không tìm được thông tin nào về các loại vũ khí đi kèm những chiếc máy bay này. Và cuối cùng, Việt Nam bỏ ra cả đống tiền cho 6 chiếc Kilo, về lý thuyết có thể tạo nên đe doạ lớn cho các tàu chiến nổi của Hải quân Trung Quốc.

Hai hợp đồng Kilo và SU30 gần nhau nên chúng gợi nên nhiều đồn đoán rằng Việt Nam đang thách thức Trung Quốc trên Nam Hải. Tôi đồng ý rằng Việt Nam đang gắng làm chuyện này một cách nghiêm túc, nhưng chỉ ở mức độ biểu diễn hơn là thật. Tôi cực kỳ nghi ngờ việc mua 6 chiếc Kilo. Với một hải quân chưa hề có kinh nghiệm tàu ngầm, thì việc huấn luyện sẽ tốn nhiều nguồn lực. Ngoài ra, khi một số nhỏ hơn loại tàu như U214, Scorpene hay Amur sẽ là chọn lựa tốt hơn hẳn (tôi không biết EU có cấm vận vũ khí Việt Nam hay không). Trung Quốc đã sử dụng, bảo dưỡng, nâng cấp được loại tàu này, và đã phát triển chiến thuật chống ngầm đối với loại tàu này nhiều năm, nên họ sẽ tìm diệt Kilo dễ hơn nhiều so với những loại tàu khác trong cùng thế hệ. Ngay trong đội tàu ngầm của Trung Quốc, thời gian nằm ụ của Kilo còn nhiều hơn đi tuần so với hạng tàu Song. Loại tên lửa Klub được nói đến nhiều như thế mà cũng chỉ có thể bắn thử được một năm rưỡi sau khi tất cả Kilo được giao hết cho Trung Quốc. Rõ ràng là Hải quân Trung Quốc vận hành lớp tàu Song dễ hơn Kilo, dù tôi không biết chắc đấy chỉ là ý riêng của Hải quân hay là do Kilo hay gặp vấn đề.

Vì thế, tôi cho rằng mua SU30MK2 có nghĩa hơn đối với Việt Nam nhờ tầm bay xa, tầm bắn xa. Tuy nhiên, tôi cho rằng khả năng của SU30MK2 được thổi phồng, chứ thực tế không như người ta nghĩ.

Nhìn chung, chắc chắn là Việt Nam đã cải thiện nhiều với những đồ chơi mới. Các hệ thống được mua hầu hết đều phục vụ chiến lược đối hạm. Chiến lược này giống như Hải quân Trung Quốc đang làm để chống Hải quân Mỹ. Điều không may là những đồ chơi tối tân của họ, Kilo và Su30MK2 đều nằm trong kho vũ khí của PLA và vì thế giảm hiệu quả đối với đối phương dự tính. Cơ bản là PLA đã dùng những thứ này đủ lâu để hiểu rõ cách chống lại.

Nếu có thể, tôi nghĩ Việt Nam phải thay đổi nguồn mua vũ khí, tốt nhất là tránh mua nguồn của Nga.
Nguồn: Feng's blog

"Lời nguyền tài nguyên" và nguy cơ của một nước làm thuê

Tác giả: NGUYỄN TRUNG
25 năm vận hành nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chúng ta đang đứng trước nguy cơ trở thành một nước đi làm thuê và đất nước cho thuê với cả nghĩa đen và nghĩa bóng - Nguyễn Trung
25 năm chưa thấy rõ hình hài công nghiệp hoá

Trong 25 năm kể từ khi tiến hành Đổi Mới, kinh tế nước ta vận hành theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng: chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh về giá lao động rẻ (trình độ tay nghề thấp, ít hàm lượng kỹ thuật, thậm chí một bộ phận đáng kể là lao động cơ bắp); khai thác tài nguyên thiên nhiên, (3)đẩy mạnh đầu tư từ các nguồn trong nước và nước ngoài cho phát triển một nền kinh tế sử dụng nhiều lao động giá rẻ và tiêu thụ nhiều tài nguyên thiên nhiên, (4)sử dụng lãng phí đất đai và không thân thiện với môi trường.

Nhìn chung trong suốt thời kỳ này nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, song chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp so với công sức bỏ ra và so với những cái giá phải trả. Đại hội X đã phê phán tình trạng yếu kém của mô hình phát triển theo chiều rộng.

Mối lo lớn nhất là sau ¼ thế kỷ tăng trưởng và phát triển kể từ khi đổi mới, nước ta cho đến nay vẫn chỉ là người cung cấp lao động rẻ, nông phẩm thô, nguyên liệu thô hoặc sơ chế thấp, sản phẩm gia công, sản phẩm chế tạo với hàm lượng công nghệ thấp, đất đai và thị trường nội địa trở thành nơi thu hút FDI chủ yếu cho công nghiệp có hàm lượng công nghệ thấp và gây nhiều gánh nặng cho môi trường tự nhiên và xã hội...

Trong thập kỷ tới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nhất thiết đòi hỏi phải có tầm nhìn thấu đáo cục diện thế giới - với lý tưởng lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia là duy nhất và trên hết, để có đủ trí tuệ và bản lĩnh tạo ra cho đất nước bên trong là sự đồng thuận không gì phá vỡ được, bên ngoài là một bối cảnh hòa bình tối ưu cho phép.

Với chiến lược phát triển dựa vào 4 yếu tố như vậy, thế mạnh lớn nhất và nguồn lực nội tại lớn nhất của đất nước là con người Việt Nam không được phát huy. Trên thực tế nước ta đang đứng trước nguy cơ trở thành một nước đi làm thuêđất nước cho thuê với cả nghĩa đen và nghĩa bóng.

Với GDP tính theo đầu người hiện nay đạt khoảng 1000 USD - tăng khoảng 10 lần so với khi bước vào đổi mới, nước ta mới ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp. Hiện tại nền kinh tế nước ta phát triển ở mức thấp trên các phương diện: trình độ lao động, hàm lượng công nghệ, năng lực kinh doanh, năng lực quản lý đất nước, hiệu quả kinh tế, sự phát triển của con người, của văn hóa, xã hội và của toàn bộ hệ thống chính trị...

Nhìn chung sau 25 năm vẫn chưa thấy hình hài của một nền kinh tế công nghiệp hóa, càng chưa thể hình dung một quốc gia công nghiệp Việt Nam trong vòng một hai thập kỷ tới sẽ ra sao. Điều này có nghĩa vào năm 2020, thời điểm hoàn thành mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa, nước ta sẽ vẫn còn đứng cách rất xa các chỉ tiêu của một nước được coi là hoàn thành giai đoạn công nghiệp hóa.

Một quốc gia hoàn thành thời kỳ công nghiệp hóa còn phải được nhìn nhận theo các tiêu chí của một xã hội công nghiệp. Trên phương diện này, phải nói nước ta còn khá lạc hậu so với một nước công nghiệp hóa và so với thế giới chung quanh về nhiều mặt: dân trí, tính công khai minh bạch, xã hội dân sự, năng lực, tính trách nhiệm và tính tin cậy được (accountability) của bộ máy nhà nước, đặt Hiến pháp và pháp luật lên trên hết, khả năng đề kháng hay khắc phục những tha hóa mới về nhiều mặt nhiễm phải trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập, đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng lạc hậu và đi sai hướng của hệ thống giáo dục với những hệ quả lâu dài và khó lường cho tương lai...

Nói một cách hình ảnh: Đến năm 2010, sau ¼ thế kỷ đổi mới, nước ta có lẽ mới chỉ đi được khoảng 1/3 hay một nửa đầu của toàn bộ chặng đường công nghiệp hóa mà thôi.

Từ nay đến năm 2020 có cách nào "đi" hay "bay" nốt 2/3 hay một nửa chặng đường còn lại không? Dứt khoát không! Thậm chí "đi" hay "bay" tiếp tục như hiện nay, sẽ rất khó có một nước Việt Nam công nghiệp hóa trong vòng ba bốn thập kỷ tới, hoặc không bao giờ!

Không để bị ru ngủ mãi

Sau 25 năm công nghiệp hóa, nước ta có một nền kinh tế còn nhiều đặc tính manh mún, bóc ngắn cắn dài, tranh thủ được cái gì thì làm cái nấy, và nhìn chung là ngày càng có những mất cân đối lớn, ngày càng đi sâu vào một cơ cấu kinh tế lạc hậu và ô nhiễm môi trường nặng nề! Hơn nữa tính mất cân đối, tính lạc hậu này và tình trạng ô nhiễm môi trường đã tới ranh giới chịu đựng cuối cùng.

Xin đơn cử một vài ví dụ:

o Xuất khẩu than, dầu, gạo và nhiều sản phẩm khác đã tới đỉnh của khả năng cho phép, không thể vượt qua được, thậm chí tiếp tục duy trì những cái "đỉnh" này có thể dẫn tới thảm họa.

o Ô nhiễm môi trường và sử dụng đất đai lãng phí đã tới mức nguy hiểm, trong khi dân số tiếp tục tăng, ruộng đất ngày càng khan hiếm.

o Cơ cấu kinh tế lạc hậu và nhiều chính sách kinh tế - xã hội hiện nay chẳng những có thể lọai bỏ cơ may mà "cơ cấu dân số vàng" của chúng ta (tỷ lệ người trong tuổi lao động chiếm quá nửa hoặc gần gấp đôi số người sống phụ thuộc) có thể đem lại cho đất nước. Thậm chí "cơ cấu dân số vàng" này có thể biến thành mối đe dọa lớn vì nạn thất nghiệp và sự xuống cấp của xã hội đang trở nên nghiêm trọng.

o Hiện nay vì những yếu kém về nhiều mặt trong thu hút FDI, nước ta hàng năm phải tìm cách xuất khẩu một lượng lao động lớn, đang trở thành địa điểm cho nước ngoài thuê để làm ra các sản phẩm tiêu hao nhiều tài nguyên, năng lượng và gây ô nhiễm moi trường. Nói gắn gọn, nước ta về nhiều mặt thực chất đang là nước đi làm thuê và là đất nước cho thuê.

o Nhập siêu và thâm hụt ngân sách cứ tiếp tục như hiện này sẽ hứa hẹn những đổ vỡ lớn trong tầm tay.

o Càng nhiều đô thị hiện đại mọc lên do đầu tư nước ngoài, nhưng sự phát triển những mặt khác nếu không phát triển đồng bộ (nhất là luật pháp, năng lực hành chính, các chính sách kinh tế, các ngành dịch vụ, nguồn nhân lực, các ngành cung ứng...) thì sẽ hoặc là thất bại lớn, hoặc biến thành các dự án treo, thành đầu cơ đất đai và tạo ra nhiều nguy cơ khác nữa.

Xin đừng để những lời khen vàng ngọc của nước ngoài về "tính năng động", về "triển vọng tốt đẹp" của kinh tế Việt Nam, về "khả năng hấp dẫn" của thị trường Việt Nam, "Việt Nam là nền kinh tế đang lên", về vân vân... ru ngủ chúng ta.

Cứ cho những lời khen ấy là thực bụng, thì cũng đừng quên họ nhìn Việt Nam về nhiều mặt đang là thị trường tốt nhất để đưa tới những thứ họ đang muốn loại bỏ ở nước họ hoặc những thứ các nơi đang thừa ế và muốn tống khứ. Các dự án đóng tàu, dự án thép và xi-măng khổng lồ là những ví dụ tiêu biểu, chưa nói đến hàng trăm sân golf...

Càng phát triển, càng ách tắc

Tóm lại, tình hình phát triển kinh tế 25 năm qua cho thấy mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng đã đi trọn vòng đời của nó. Điều này thể hiện tập trung nhất ở chỉ số lạm phát và chỉ số ICOR của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng cao và thuộc loại cao nhất ở châu Á, đồng thời lạm phát vượt xa mức tăng trưởng.

Nói nôm na đấy là hiện tượng: Tiền của công sức bỏ ra ngày càng nhiều, hiệu quả kinh tế thu được có tỷ lệ ngày càng thấp. Kéo dài tình trạng này sẽ kiệt sức.

Tăng trưởng GDP

Tỷ lệ lạm phát

Chỉ số ICOR

2006

8,17%

7,7%

5,0

2007

8,48

12,6

5,2

2008

6,23

19,89 (22,97)*

6,9

2009**

5,2

9,4


Nguồn: Tổng cục Thống kê *IMF & EIU **Dự báo

Càng phát triển, nền kinh tế càng tích tụ nhiều ách tắc hay mất cân đối mới. Những hiện tượng ách tắc này được đặt dưới cái tên gọi chung là những thắt cổ chai. Đó là những mất cân đối ngày càng gay gắt:

  • giữa khả năng đáp ứng của kết cấu hạ tầng và đòi hỏi phát triển của nền kinh tế; giữa sự phát triển yếu kém nguồn nhân lực và đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội;
  • giữa khả năng quản trị quốc gia và đòi hỏi phát triển của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập, tình trạng quan liêu và nạn tham nhũng, khả năng yếu kém trong thực thi pháp luật...;
  • đặc biệt là tình trạng nhập siêu và tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng: Nhập siêu từ năm 2000 ngày càng lớn và được coi là ở mức báo động. Kể từ năm 1995 đến 2005, nhập siêu của Việt Nam luôn ở mức dưới 5 tỷ USD và ước khoảng 10% GDP; song đã tăng vọt lên trên 12 tỷ USD vào năm 2007 (gấp 2,4 lần so với năm 2006) và đến hết tháng 9/2008, tổng mức nhập siêu đã lên tới con số 15,8 tỷ USD (ước khoảng trên 20% GDP/năm)... Nếu phân tích các quốc gia ta nhập siêu, sẽ thấy bức tranh trầm trọng hơn (chủ yếu từ Trung Quốc và các nước châu Á - là các quốc gia có công nghệ thấp). Thâm hụt ngân sách từ năm 2000 trung bình là 5-6% GDP/năm, riêng năm 2009 dự kiến là 8% GDP/năm.
  • giữa một bên là năng lực và chất lượng trong việc hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển.., và một bên là đòi hỏi phát triển mọi mặt đất nước.

Hệ quả lớn nhất của tình trạng càng phát triển càng tích tụ ngày càng nhiều ách tắc và mất cân đối lớn là hầu như cản trở mọi chiến lược hay chủ trương phát triển có tính dài hạn.

Mới dừng ở công nghiệp hóa "gặp gì làm nấy"

Nội dung công nghiệp hóa trên thực tế đã tiến hành 25 năm qua chủ yếu được xác định qua các chỉ số tăng trưởng đặt ra cho các kế hoạch 5 năm theo các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), thiếu hẳn việc xác định nội dung cụ thể công nghiệp hóa về một số ngành và sản phẩm kinh tế mà quá trình công nghiệp hóa phải từng bước giành được cho các thị trường ngách hoặc thị trường mới. Nói một cách khác đấy là cách hoạch định công cuộc công nghiệp hóa về mặt số lượng.

Việt Nam thiếu hẳn chiến lược, kế hoạch và các quy hoạch cụ thể phát triển kết cấu hạ tầng đi song song hoặc đi trước một bước mở đường cho sự tiến triển của công nghiệp hóa với nội dung khai thác thị trường ngách và chiếm thị trường mới.

Chúng ta cũng thiếu hẳn chiến lược phát triển nguồn nhân lực mà sự nghiệp công nghiệp hóa/ hiện đại hóa đất nước đòi hỏi, thậm chí có thể nói hệ thống giáo dục và chính sách phát triển nguồn nhân lực hiện nay là hoàn toàn bất cập, trực tiếp gia tăng sự tụt hậu của đất nước và để lại nhiều hệ quả lâu dài.

Ta chỉ đề ra yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các chỉ số số lượng cần đạt được cho tỷ trọng các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), song trong thực tế thiếu rất nhiều chính sách vĩ mô hỗ trợ quá trình chuyển đổi này, những chính sách vĩ mô hiện có không đáp ứng được đòi hỏi này. Các Đại hội đều phê phán là cơ cấu kinh tế chuyển đổi rất chậm, nhưng đến nay chưa có kế sách gì đảo ngược tình hình này.

Đặc biệt nghiêm trọng là các Đại hội Đảng đều thừa nhận cải cách chính trị không đi kịp với đòi hỏi của phát triển kinh tế và xã hội, do đó chẳng những không thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, không phát huy được cái mạnh và những thuận lợi của đất nước. Thậm chí, nó làm cho quá trình này chậm lại. Trong quá trình thực hiện, các kế hoạch 5 năm thường bị thiên lệch, biến tướng khá xa.

Nói ngắn gọn, cho đến nay mới chỉ có chủ trương hay mong muốn công nghiệp hóa với cái đích phải đạt được vào năm 2020; nghĩa là thiếu hẳn một chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa đồng bộ, xuyên xuốt và có hiệu quả cho mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa.

Tất cả những điều vừa trình bày toát lên một sự thật: Nước ta sau 25 năm trên thực tế vẫn chưa có một chiến lược công nghiệp hóa đúng với cái tên gọi của nó. Quá trình công nghiệp hóa cho đến nay diễn ra hầu như dưới dạng một chuỗi các kế hoạch 5 năm cộng lại, và rất khó nói rằng những kế hoạch 5 năm này được thiết kế theo một quan điểm chiến lược công nghiệp hóa xuyên xuốt.

Thực tế đã diễn ra chủ yếu là: tranh thủ làm được gì làm nấy, gặp gì làm nấy, không ít tình trạng chồng chéo, trùng lặp, giẫm đạp lên nhau - tỉnh anh có xi măng lò đứng, tỉnh tôi cũng có; tỉnh anh có nhà máy mía đường, tỉnh tôi không kém tỉnh anh; tỉnh anh có khu công nghiệp, tỉnh tôi cũng không thua...

Quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua chủ yếu do sự lôi kéo, sức đẩy và sự dẫn dắt tự thân của cuộc sống và tác động của đầu tư và dòng vốn từ bên ngoài, nhiều hơn là do sự thúc đẩy theo một hướng chiến lược được xác lập của hệ thống chính trị và do sự giác ngộ với tầm nhìn sắc bén của những người lãnh đạo.

Cần nói ngay, phát triển như thế đang tạo ra nguy cơ lệ thuộc (chứ không phải phụ thuộc lẫn nhau, cũng không phải "win-win") ngày càng nguy hiểm

Đổi mới thể chế chưa theo kịp đổi mới kinh tế

Hơn nữa, nội dung công nghiệp hóa 25 năm qua chưa đặt ra vấn đề phát huy lợi thế và nguồn lực lớn nhất của nước ta là con người Việt Nam.

Các Đại hội Đảng nhấn mạnh coi con người là trung tâm, song lại hiểu vấn đề này chủ yếu theo những khía cạnh phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội. Trên thực tế triển khai, chưa thể nói con người đã trở thành trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội. Càng chưa thể nói con người là đối tượng trung tâm được phục vụ của mọi nỗ lực của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước.

Xin nhấn mạnh: quan điểm coi con người là trung tâm như vậy và quan điểm phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Có lẽ sự thiếu vắng một chiến lược công nghiệp hóa dựa trên phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất này của đất nước là một trong các tác nhân chính khiến cho quá trình và nội dung công nghiệp hóa 25 năm qua nặng về chạy theo số lượng, chứ không phải là chất lượng.

Sự thiếu vắng quan điểm chiến lược cực kỳ hệ trọng này đã xô đẩy quá trình công nghiệp hóa chủ yếu chạy theo số lượng rất khó cưỡng lại; qua đó công nghiệp hóa rơi vào tình trạng bước trước không chuẩn bị được bao nhiêu cho bước tiếp theo, càng phát triển cơ cấu kinh tế càng khó chuyển dịch. Tình trạng này đồng thời cũng tăng thêm sự hụt hẫng và trì trệ trong đổi mới thể chế chính trị - xã hội theo yêu cầu phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người.

"Lời nguyền tài nguyên"

Càng phát triển, quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua có khuynh hướng càng đi sâu vào kinh tế thượng nguồn: khai thác khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác, phát triển sản phẩm thô, giá trị gia tăng rất thấp, duy trì công nghệ lạc hậu, cái giá phải trả cho hủy hoại môi trường tự nhiên và môi trường xã hội rất cao...

Đặc biệt là trong các "nền kinh tế GDP tỉnh", hầu như tất cả các tỉnh có khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên thì đều coi đấy là thế mạnh của mình và ra sức khai thác bừa bãi; có nơi Thủ tướng đã phải ra lệnh đình chỉ.

Phát triển kinh tế thượng nguồn là điều khó tránh khỏi ban đầu đối với một nước nghèo và lạc hậu. Song sai lầm là ở chỗ muốn lấy phát triển kinh tế thượng nguồn làm cú hích và nguồn tích tụ vốn cho công nghiệp hóa, thậm chí coi kinh tế thượng nguồn là một nội dung quan trọng của công nghiệp hóa, tại nhiều vùng trong nước đã và đang xảy ra phát triển kinh tế thượng nguồn với bất kỳ giá nào.

Cũng phải nói rõ thêm, nhiều tỉnh bí quá không biết làm gì thì bóc rừng và bóc khoáng sản để lãnh đạo tỉnh "thi đua" trong việc tạo thành tích thay đổi tỷ trọng cơ cấu trong "nền kinh tế GDP tỉnh" của mình, nhân dân tại chỗ chịu thêm nhiều thiệt hại và nhà nước hầu như không được lợi gì song trên mặt nhiều báo cáo lại được coi đây là thành tích!

Hạch toán chung của phát triển kinh tế thượng nguồn theo kiểu như vậy trong 25 năm qua là lợi bất cập hại, cái giá phải trả cho phát triển quá đắt so với mức tiến bộ đạt được, tiếp tục ghìm giữ đất nước trong vòng lạc hậu cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Chính điều này góp phần giải thích tại sao 25 năm ban đầu của nước ta đi chậm hơn 25 năm đầu của các NICs như Hàn Quốc và Đài Loan, thậm chí đang thúc đẩy đất nước rẽ vào ngả đường trở thành một Philippines mới!

Trên thế giới người ta gọi hiện tượng này là căn bệnh Hà Lan hay là "lời nguyền của tài nguyên", giải thích căn nguyên hàng chục năm qua lấy xuất khẩu tài nguyên làm nguồn thu nhập quan trọng song hiện nay vẫn ở trong vòng lạc hậu - đấy chính là căn bệnh kinh tế Hà Lan đã mắc phải năm 1977, khi quá chú trọng xuất khẩu khí thiên nhiên và qua đó làm trì trệ và suy sụp nhiều ngành kinh tế khác, Hà Lan buộc phải thay đổi chiến lược phát triển của mình để tìm lối thoát.

Hãy thử xem xét một số vấn đề:

Các xí nghiệp xi-măng, luyện thép đã có, đang xây dựng, hoặc đã được cấp phép xây dựng sẽ dẫn tới tình hình nước ta vào năm 2020 thừa khoảng một chục triệu tấn xi măng/năm và khoảng 20 triệu tấn thép/năm trong tình trạng đất nước ngày càng thiếu năng lượng gay gắt. Phải chăng mục tiêu công nghiệp hóa của nước ta như vậy là để trở thành cường quốc xi-măng và thép trong thế kỷ 21 này?

Nếu điều này xảy ra, chắc chắn là một thảm họa cho đất nước - trước hết vì cảnh quan môi trường tự nhiên của đất nước sẽ bị "mặt trăng hóa" nhiều vùng, kinh tế nước ta sẽ đổ vỡ, vì bị xi-măng và thép không có khả năng cạnh tranh của chúng ta đè bẹp..

Vào năm 2015 trở đi, nước ta sẽ thiếu năng lượng trầm trọng và phải nhập khẩu, trong khi đó xuất khẩu than và dầu của nước ta xuốt 25 năm qua hầu như bỏ qua tương lai của đất nước! Phát triển thủy điện đã vượt qua cái ngưỡng cho phép.

Trong khi đó nhà nước lại thiếu hẳn việc nghiêm khắc rà xoát, đánh giá lại chính sách năng lượng quốc gia hiện nay, thiếu hẳn những nỗ lực xử lý nghiêm khắc và khắc phục tình trạng lãng phí và thất thoát năng lượng quá lớn đang diễn ra hàng chục năm nay.

Nếu đánh giá nghiêm túc chi phí/lợi ích (cost/benefit), bao gồm cả những việc như chi phí cho khắc phục những tác động ngoại vi của việc khai thác than, hoàn trả môi trưởng tự nhiên nơi khai thác, sự thất thoát hàng chục triệu tấn than lậu/năm, sự tàn phá môi trường tự nhiên trong vùng, đánh giá cái được và cái mất so với đòi hỏi của chiến lược năng lượng quốc gia, vân... vân... khó có thể coi việc khai thác mỗi năm khối lượng càng lớn than ở Quảng Ninh là môt thành tựu kinh tế.

Đúng hơn nên coi đó là một thất bại kinh tế lớn và một sai lầm về chiến lược năng lượng - không phải do chủ trương khai thác than, mà do năng lực quản lý và hiệu quả kinh tế yếu kém; đặc biệt quan trọng là do thiếu hẳn một chiến lược năng lượng quốc gia được xác định với những luận chứng vững chắc làm cơ sở cho việc khai thác. Thậm chí còn có thể coi việc khai thác than Quảng Ninh trong khi đất nước ngày càng khan hiếm năng lượng là một trong các ví dụ rõ nét nhất của tình trạng "bóc ngắn cắn dài", các thế hệ tương lai phải trả giá! Trong cả nước còn có nhiều công trình khai thác titan, khai thác đồng, khai thác các khoáng sản khác để xuất khẩu nguyên liệu với hệ quả xấu tương tự

Rừng phòng hộ và rừng tự nhiên ngày càng bị trọc hóa và chỉ còn lại rất ít; đặc biệt là rừng đầu nguồn đã rất ít mà còn đang tiếp tục bị xâm phạm nghiêm trọng. Lũ lụt ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn và khó khắc phục hơn. Đất đai bị xói mòn và sa mạc hóa cùng với tình trạng chất lượng thổ nhưỡng ngày càng xuống cấp đang gia tăng với tốc độ rất đáng lo ngại.

Xin hãy đến tận nơi các khu khai thác này, dù là titan ở dọc bờ biển miền Trung, dù là những cánh rừng nham nhở do khai thác quặng sắt ở Lào Cai để xuất khẩu sang Trung Quốc, các vùng khai thác vàng bừa bãi ở Bắc Kạn, Quảng Nam, Bình Thuận... - mà chủ yếu là khai thác lậu, những dòng sông chết, những con sông bị đổi dòng và đôi bờ sụt lở do bán cát, những cánh đồng hoang do các dự án treo... để nhìn tận mắt thực trạng này.

Xin hãy đối chiếu thực tế nêu trên với quan điểm ghi trong nghị quyết Đại hội X: "Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế như lọc hóa dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hóa chất, xi-măng, khai thác bô-xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng và một số sản phẩm cơ khí chế tạo" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc khóa X, trang 197-198).

Học từ sai lầm của những nước đi trước

Việt Nam là nước đi sau, có rất nhiều cái bất lợi và cái lợi phải xử lý thỏa đáng - điều này có nghĩa phải tìm ra con đường riêng của mình để không phải lặp lại những sai lầm của các nước đi trước, tránh các nguy cơ trở thành "bãi thải công nghiệp" của các nước khác, đồng thời tìm ra cho mình con đường thuận lợi hơn.

Thị trường thường chật cứng đối với nước đi sau - vì vậy phải khai thác lợi thế nước đi sau trong việc chiếm lĩnh các thị trường ngách (các "niches"), mà muốn thế phải có các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và chính sách đối ngoại cho phép liên kết, chiếm lĩnh những khâu nào đó của các chuỗi cung - ứng trên thị trường thế giới để có khả năng khai thác tốt nhất các thị trường ngách. Công nghiệp hóa vì vậy cần có trọng tâm là chú trọng, tranh thủ khai thác các thị trường ngách, đồng thời tìm đường chiếm lĩnh thị trường mới;.

Hiển nhiên 25 năm qua những đòi hỏi này không được đặt ra hoặc không được đặt ra một cách đúng tầm để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta.

Danh sách Blog của Tôi