Lời hay ý đẹp

* Children in the dark cause accidents, accidents in the dark cause children

Những đứa trẻ trong bóng tối gây ra tai nạn, những tai nạn trong bóng tối tạo ra những đứa trẻ.

* Give a man a match and he'll be warm for a minute; set him on fire and he'll be warm for the rest of his life.

Cho người khác một cây diêm, anh ta sẽ ấm áp chỉ một phút; đốt anh ta, anh ta sẽ ấm áp trọn đời

* The reason Santa is so jolly is because he knows where all the bad girls live.

Lý do khiến Santa luôn vui vẻ là vì ông ấy biết những cô gái mất nết sống ở đâu.

* For Xmas I want Santa's list of naughty girls.

Ước nguyện Giáng sinh của tôi là được Santa tặng danh sách những cô gái hư hỏng.

* Solution to two of the world's problems: Feed the homeless to the hungry.

Cách giải quyết 2 vấn đề nghiêm trọng của thế giới: Hãy cho những người chết đói ăn thịt những kẻ không nhà.

* I would love to change the world, but they won't give me the source code.

Tôi rất muốn thay đổi thế giới; nhưng mà họ không chịu đưa cho tôi mã nguồn.

* Anyone can quit smoking, it takes a real man to fight cancer

Bỏ thuốc là chuyện quá đơn giản, những người dũng cảm sẽ không bỏ thuốc để có dịp chiến đấu với bệnh ung thư.

* Light travels faster than sound. That's why some people appear bright until you hear them speak.

Ánh sáng đi nhanh hơn âm thanh. Vì thế mà nhiều người trông có vẻ sáng sủa cho tới khi bạn nghe họ phát biểu.

* Last night I lay in bed looking up at the stars in the sky and I thought to myself, where the heck is the ceiling.

Tối qua tôi nằm trên giường và ngắm những vì sao trên bầu trời, và tự hỏi mình, trần nhà biến đâu mất rồi?

* Before you insult a man, walk a mile in his shoes. That way, when you insult him, you'll be a mile away, and have his shoes.

Khi bạn định lăng mạ một người, hãy đi một dặm trong chiếc giầy của anh ta [ý nói hãy đặt mình vào tình thế của người khác trước khi phê phán]. Như thế, khi bạn lăng mạ anh ta, bạn đã cách xa anh ta cả dặm và anh ta không còn giày.

* Who's General Failure & why is he reading my disk?

Thằng Đại tướng Failure là thằng nào, và tại sao nó lại đọc đĩa của tôi?

["General Failure reading disk A" là một thông báo lỗi của DoS, khi không đọc được đĩa trong ổ A. Nhưng cũng có thể hiểu là "Đại Tướng Failure đang đọc ổ A"]

* Hurricanes are like women: when they come, they're wet and wild, but when they leave they take your house and car.

Bão tố giống như đàn bà: Khi họ đến thì ẩm ướt và hoang dã, nhưng khi họ bỏ đi thì bạn mất nhà mất xe.

* Suicide is man's way of telling God, "You can't fire me - I quit."

Tự tử là cách để con người nói với Thượng Đế: "Ông không thể đuổi tôi - tôi bỏ việc!"

* Faith may move mountains but it was the whip that built the pyramids.

Niềm tin có thể chuyển được núi, nhưng chính đòn roi đã xây nên kim tự tháp

Cận cảnh 'nền giáo dục tiên tiến nhất trên thế giới'

Nền giáo dục ở Thụy Điển không buộc học sinh vâng lời một cách mù quáng mệnh lệnh của người lớn, mà khơi dậy tính tự giác chấp hành những tiêu chuẩn hành xử dân chủ được chính học sinh tham gia thiết lập, vì lợi ích chung và công bình của mọi người trong cộng đồng.

Đó là một phần trong công trình nghiên cứu "Nền giáo dục Thụy Điển tiên tiến nhất thế giới hiện nay?" của TS Toán học Lê Tự Hỷ, nguyên giảng viên Trường Đại học Sư phạm TP.HCM. Ông đã có nhiều năm nghiên cứu tại Mỹ. Công trình nghiên cứu này là một chuyên luận công phu, bổ ích và sâu sắc, rất cần cho việc hoạch định chiến lược giáo dục của Việt Nam.

Mô tả ảnh.
Khoa Toán ĐH Uppsala - Thụy Điển.

Trước năm 1994, nền giáo dục của Thụy Điển cũng gần giống như ở Anh, dưới sự quản lý khá nghiêm ngặt từ Bộ Giáo dục với những chương trình của các cấp học và phương pháp dạy học theo truyền thống cũ.

Năm 1994, Bộ Giáo dục Thụy Điển cho thực hiện cuộc cải cách giáo dục từ mẫu giáo cho đến hết trung học phổ thông, theo chủ thuyết xây dựng kiến thức (constructivism) kết hợp với việc chuẩn bị cho lực lượng lao động trong nền kinh tế toàn cầu. Đây là hướng cải cách mà Dewey, J - một nhà cải cách Giáo dục Mỹ đã cổ xúy từ cách đây gần 1 thế kỷ.

Tiến trình cải cách tới nay đã hơn 10 năm. Thừa nhận đây là đường lối giáo dục tiên tiến nhất và cũng mong muốn áp dụng, Mỹ đã cử một phái đoàn điều tra tại hiện trường tìm hiểu, xem xét các kết quả của công cuộc cải cách này.

Kết quả điều tra tại hiện trường cho thấy:

Học sinh làm chủ việc học tập

Mô tả ảnh.
Một buổi học nhóm của HS Thụy điển
Học sinh được hướng dẫn, khuyến khích tự lập và triển khai kế hoạch học tập của riêng mình.

Bắt đầu từ mẫu giáo với 4 tuổi, mỗi sáng thứ 2, các em ngồi thành vòng tròn với cô giáo, mỗi em sẽ nói lên những gì mình dự định làm trong tuần, giáo viên sẽ giúp các em điều chỉnh kế hoạch và hàng ngày hỗ trợ làm cho công việc của các em trở nên dễ thực hiện. Vào ngày thứ 6, mỗi em lại nói lên những việc mình đã làm trong tuần, tự đánh giá mức độ hoàn thành, nếu tốt thì mỉm cười, còn chưa tốt thì nhăn mặt.

Sau đó, người thầy sẽ bàn luận sự tiến bộ của các em. Người Thụy Điển cho rằng đó là cách bắt đầu rèn luyện nề nếp dân chủ, để khi lên 6 tuổi, các em đã biết dân chủ là quan tâm tới nhau, bàn thảo với nhau để học hỏi lẫn nhau, chứ không tranh giành nhau, đánh lộn nhau.

Ở các trường trung học cơ sở, thầy giáo và học sinh gặp nhau hàng tuần trong hội trường để bàn luận về việc họ cảm nhận việc học đang tiến triển như thế nào. Việc học của từng nhóm học sinh được đem ra xem xét cái gì đang tốt, cái gì là xấu.
Trước đó các nhóm học sinh đã nộp cho các thầy các bản tự nhận xét, đánh giá của họ.

Còn tại trường trung học phổ thông, các học sinh tham gia vào hầu hết các mặt của quá trình học tập từ việc lập kế hoạch học tập, đánh giá, và cả tiêu chuẩn cho việc đánh giá.

Hướng dẫn chứ không chỉ thị, áp đặt, độc đoán

Mặc dù, học sinh được yêu cầu đạt tới các tiêu chuẩn học lực do Bộ Giáo dục Thụy Điển thiết lập và ban hành. Theo đó, có 17 chương trình cấp phổ thông trung học cho toàn thể 278 học khu ở Thụy Điển. Nhưng các tiêu chuẩn và chương trình chỉ có tính hướng dẫn những nét đại cương, rất uyển chuyển và có thể được thay đổi qua các cuộc trao đổi giữa học sinh và thầy giáo.

Toàn bộ tài liệu hướng dẫn này cho cả đất nước Thụy Điển mà chỉ có 103 trang (Regeringskansliet, 1995) trong khi 4 tập hướng dẫn về Toán, Khoa học tự nhiên, Khoa học xã hội, và Ngôn ngữ cho hệ thống K-12 của bang Ohio ở Mỹ lên tới 1196 trang.

Trao quyền tự chủ cho học sinh

Trong trường trung học cơ sở, không có chuông reo báo hiệu giờ học, học sinh tự động vào lớp học, vào làm việc theo nhóm. Đôi khi cũng làm việc cá thể. Thầy giáo hiếm khi bắt đầu buổi học bằng cách đứng trước lớp nói với học sinh, mà thường ngồi trong một nhóm nào đó với học sinh để bắt đầu một đồ án.

Theo chủ thuyết xây dựng kiến thức, việc giảng dạy được cá nhân hoá: mỗi học sinh tự quyết định việc học như thế nào cho tốt đối với riêng mình khi ngồi vòng tròn với nhau và với thầy giáo. Mỗi học sinh được yêu cầu triển khai và dạy một bài học trong một tuần cho các bạn trong lớp, mà không phụ thuộc vào bài in sẵn trong sách giáo khoa.
Điều này đòi hỏi học sinh phải suy nghĩ sáng tạo hơn, và làm phù hợp với sự ưa thích học tập của các bạn trong lớp. Sau mỗi bài học, học sinh phải viết ra một vài suy nghĩ về những điều được cho là đúng và những gì chúng sẽ phải thay đổi.

Đó là một thông lệ mà thầy giáo hướng dẫn và nhắc nhở học sinh làm hàng ngày.

Sự tín nhiệm và giám sát của giáo viên đối với học sinh

Mô tả ảnh.
Dạy và học ngoại ngữ ở Thụy Điển.

Tại các trường tiểu học, trong khi các học sinh chơi ngoài trời quanh nhà trường như trên các sườn đồi có tuyết hay trên một sân băng, thì có thể không có một thầy giám thị nào ở gần đó.

Các em đã biết rõ các cách ứng xử với nhau trong các trò chơi vì chính các em đã cùng với các thầy bàn bạc thảo ra nội quy của mọi cuộc chơi. Và chính các em đã tuân thủ một cách tự giác và thống nhất với nhau cách ứng xử thân thiện, không đánh đập hay chơi xấu nhau…

Vào thời gian dùng trà giữa buổi sáng, chỉ 2 học sinh tiểu học cỡ 11 tuổi lo chuẩn bị trà phục vụ cho tất cả người lớn trong trường, trong khi mọi học sinh khác chơi bên ngoài mà không có người lớn nào giám sát.

Các nhà nghiên cứu Mỹ rất ngạc nhiên, họ cho rằng không có người lớn giám sát, lỡ xảy ra sự cố hay tai nạn gì thì sao? Ông hiệu trưởng trả lời là có gì thì học sinh sẽ báo ngay với chúng tôi.

Người Thụy Điển không lo sợ các vấn đề như người Mỹ vì họ cho rằng, việc giáo dục cấp mẫu giáo và tiểu học của Thụy Điển là tập trung vào rèn luyện các kỹ năng giao tiếp xã hội, tập cho học sinh biết cách sống hòa hợp với người khác, ý thức được trách nhiệm của bản thân mình trong mọi sinh hoạt tập thể hơn là học kiến thức. Họ cho rằng có ích gì khi chỉ dạy cho trẻ em biết đọc biết viết, biết nhiều thứ để rồi cuối cùng chúng hành xử để bị vào tù.

Tỉ lệ phạm tội và bị tống giam ở Thụy Điển thấp hơn ở Mỹ khá nhiều. Tuy ít chú trọng về dạy kiến thức ở mấy năm đầu cho học sinh, nhưng lên bậc trung học phổ thông thì học sinh Thụy Điển đã chứng tỏ vượt trội hơn về học lực so với học sinh ở nhiều nước công nghiệp hoá cao nhất trong đó có Mỹ.

Nền giáo dục ở Thụy Điển không buộc học sinh vâng lời một cách mù quáng mệnh lệnh của người lớn, mà khơi dậy tính tự giác chấp hành những tiêu chuẩn hành xử dân chủ được chính học sinh tham gia thiết lập, vì lợi ích chung và công bình của mọi người trong cộng đồng.
Rèn luyện tinh thần dân chủ và sự trao quyền hợp pháp cho học sinh

Cuộc cải cách giáo dục năm 1994 cũng tăng cường việc rèn luyện tinh thần dân chủ và trao quyền hợp pháp cho giới trẻ.

Các thầy giáo được nhiều quyền tự quản hơn trong việc tạo ra các quyết định về công việc của họ trong nhà trường. Trong trường có một số thầy giáo được yêu cầu tham gia ý kiến giúp ban giám hiệu xem xét các vấn đề để đưa ra các quyết định của nhà trường.

Sự phân quyền này đã khai sinh ra một “Quốc hội học sinh” gồm 3 học sinh cấp 2 và 3 học sinh cấp 3 do tất cả học sinh trong một học khu bầu chọn ra. Sáu thành viên của quốc hội này được yêu cầu tham gia vào các cuộc họp của các giới chức chính quyền địa phương về các vấn đề liên quan tới giới trẻ.

Chuẩn bị cho khả năng lao động trong nền kinh tế toàn cầu

Nhà trường mẫu giáo và tiểu học chú trọng rèn luyện các kỹ năng sống trong xã hội, còn ở cấp 3 thì học sinh được chuẩn bị lao động theo tinh thần trường trung học tổng hợp.

Trong mỗi học khu ở Thụy Điển có 16 chương trình trung học cấp 3 chú trọng về hướng nghiệp (career-centered programs of study). Những chương trình này được dạy cùng trong một trường, mỗi thầy thường chỉ làm việc trong một chương trình với quyền tự trị đáng kể.

Bộ Giáo dục Thụy Điển chỉ đưa ra các đề cương tổng quát cho mỗi chương trình, cho phép thầy giáo và học sinh bàn bạc cùng quyết định với nhau nên học cái gì.

Tất cả 5 môn học chính là tiếng Thụy Điển, tiếng Anh, Toán, Khoa học xã hội, và Khoa học tự nhiên đều là 5 môn bắt buộc trong mỗi chương trình. Nhưng những môn này lại được học trong bối cảnh nghề nghiệp riêng của từng chương trình.

Có hai chương trình không tỏ ra hướng nghiệp rõ như 14 chương trình kia mà nặng về chuẩn bị cho học sinh lên đại học hay cao đẳng. Tuy nhiên, dù học ở 14 chương trình hướng nghiệp kia thì học sinh vẫn hợp lệ và đủ trình độ vào đại học.

Ở Thụy Điển, thường chỉ 1/3 học sinh tốt nghiệp trung học được chọn vào đại học. Một số học sinh tham gia lực lượng lao động ngay sau khi tốt nghiệp trung học.

Ngoài 16 chương trình chính quy ra, còn một chương trình thứ 17 là chương trình dành cho các học sinh vì lý do này hay lý do khác bị loại ra khỏi một trong 16 chương trình chính quy.

Học sinh học theo chương trình 17 là để bổ sung, củng cố kiến thức để cuối cùng được quay trở về một trong 16 chương trình chính quy.

Trong 16 chương trình này, học sinh được rèn luyện phong cách để chuẩn bị trở thành người lao động trong nền kinh tế toàn cầu theo 4 chỉ tiêu: làm việc theo nhóm (teamwork), rèn luyện kỹ năng kỹ thuật thực dụng (pragmatic technical skills), tập giải quyết vấn đề (problem solving), và tinh thần dám nghĩ dám làm trong doanh nghiệp (entrepreneuship).

Các phong cách này được rèn luyện thông qua việc từng nhóm học sinh thực hiện các đồ án dưới sự hướng dẫn của thầy. Quá trình thực hiện đồ án luôn kèm theo các phân tích có tính phê phán.

Mỗi cộng đồng dân cư đều có một hội đồng gồm các nhà lãnh đạo địa phương trong các cơ quan chính phủ và các doanh nghiệp. Họ thường kỳ tổ chức nói chuyện cho học sinh nghe về các nhu cầu kinh tế của cộng đồng. Trong đó nêu rõ các học sinh nên được chuẩn bị như thế nào để sẵn sàng tham gia lực lượng lao động.

Như các nhà giáo dục hướng nghiệp, hội đồng này cho biết họ mong muốn những gì và họ cảm nhận học sinh nay đang ở mức nào, đó chính là cách giáo dục hướng nghiệp vững chắc cho học sinh.

Các doanh nghiệp địa phương thường hỗ trợ các phương tiện, thiết bị cho việc thực hành của học sinh, và sắp xếp tạo công ăn việc làm cho học sinh tốt nghiệp. Ở Thụy Điển mọi nhu cầu tài chính của nhà trường đều do sự đóng góp bắt buộc của các cấp chính quyền.

Việc thiết lập và triển khai kế hoạch học tập của riêng mình đòi hỏi học sinh phải sáng tạo và dám nghĩ dám làm. Hơn nữa, có những buổi học cốt tập cho học sinh tinh thần dấn thân. Chẳng hạn, học sinh được cho vay một số tiền để mở doanh nghiệp thực sự trong cộng đồng, thường dưới dạng dịch vụ trực tuyến.

Học sinh được vay tiền từ một ngân hàng địa phương dưới sự bảo đảm của ban giám hiệu. Tiền vay phải được hoàn trả cho ngân hàng trước khi học sinh tốt nghiệp. Thống kê cho biết, rất hiếm khi các doanh nghiệp này làm mất tiền vay.

TS Lê Tự Hỷ (Theo Tạp chí Xưa và Nay số tháng 12/2009)

Vương Trí Nhàn - Khôn lỏi - ranh vặt - tinh tướng

Vương Trí Nhàn

Một người đã sống qua ở Nhật cho biết người Nhật trong khi giao thiệp, nhất là trong khi làm kinh tế, cũng có nhiều quái chiêu không thể thương được. Đầu cơ, móc ngoặc, hối lộ, gọi chung là đi đường tắt... trò gì cũng có cả.

Nhiều người trong đám dân đi chào mời tiếp thị (gọi là "mizu shobai") là những chuyên gia về lừa lọc. Họ lừa có bài có bản. Nhà người Nhật thường đóng cửa và khóa, trước cửa nhiều nhà thường phải gắn bảng miễn tiếp loại người này.Bởi "mizu shobai" như có bùa mê thuốc lú, làm cho người ta phải xiêu lòng, rồi sau mới biết mình bị lừa.

Bài viết so sánh: “Cái tinh ma thâm độc của họ khác với cách xảo trá ngô nghê hay dối quanh của người Việt, nên lúc đầu rất khó nhận ra.

Có chút gì đó vừa “vui” vừa buồn khi nghe nhận xét trên đây. “Vui” vì không phải chỉ người Việt thích lừa lọc nhau, thiên hạ cũng xấu chẳng kém gì ta. Mà buồn vì hóa ra người mình rút cục chỉ biết mẹo vặt, chứ không có cái mưu đồ sâu xa, cái thâm trầm như thiên hạ.
Hơn bù kém thấy đáng buồn hơn vui. Người bị lừa vừa bật cười vừa bực mình - đến lừa mà cũng vụng dại hớ hênh,thì còn làm được cái gì nên hồn(!).

Người nước ngoài thường nhận xét nói chung người Việt thông minh lanh lợi. Nhưng họ cũng thấy ngay sự nhạy cảm nhanh nhẹn trong phản ứng này không dựa trên một sự suy nghĩ chắc chắn mà có gì đó nông nổi vội vã. Trong sự chủ động lại như mang sẵn yếu tố thụ động.
Bản thân chúng ta không phải không biết điều đó.

Trong tiếng Việt từ “khôn” không hàm ý sâu sắc trong tư duy và uyên bác trong kiến thức, mà ngả sang một sự tính toán lặt vặt dễ gây phản cảm.

Đó là nghĩa của khôn trong những câu tục ngữ “khôn ăn người dại người ăn “, “khôn văn tế dại văn bia”, “khôn chẳng qua lẽ khỏe chẳng qua lời“, ”khôn sống mống chết”, “ khôn nên quan gan nên giàu“, “khôn ngoan chẳng lọ thật thà – lường thưng tráo đấu chẳng qua đong đầy“…

Theo từ điển tiếng Việt Hoàng Phê, “khôn” là khả năng suy xét để một người tìm ra một cách xử sự có lợi nhất, tránh được những gì có hại đến quyền lợi các mặt của anh ta. Khôn lỏi - ranh ma - láu cá… đều là thực dụng và vụ lợi.

Tuy không dùng đến từ khôn, nhưng câu “Ăn cỗ đi trước lội nước đi sau” thật đã thâu tóm đủ cái tài tính toán của người mình và minh họa cho định nghĩa nói trên.

Tồn tại trong suốt lịch sử, công thức này đã thành một thứ “chân lý mặc định“, người Việt dùng nó để “minh triết bảo thân” và việc truyền dạy trong các gia đình được xem là hoàn toàn tự nhiên. Không ai mang nó ra phê phán bao giờ. Gặp một người hành động theo nguyên tắc đó, chúng ta hoàn toàn thông cảm, trong bụng hiểu rằng ai cũng phải xử sự thế thôi, trông người khôn ta phải học theo để khi khác áp dụng.

Cả trong truyện kể dân gian lẫn trong chính sử, người xưa còn ghi lại nhiều mưu mẹo vặt của người mình trước sứ Tàu. Nguyễn Văn Tố trong Đại nam dật sử (1944) kể khi tiếp Tống Cảo, Lê Hoàn cho xua trâu bò của dân ra để dọa, gọi là quan ngưu, không đầy một nghìn nói khoe là mười vạn. Đấy là khi cần khoa trương thế lực. Còn nói tới việc khoe trí khôn, hẳn ai cũng nhớ sự tích Trạng Quỳnh thi vẽ: Quỳnh chấm cả mười đầu ngón tay vào mực để vẽ giun.

Về khoản khôn ngoan ranh vặt thì Trạng Quỳnh là cả một tượng đài vĩnh viễn. Trong danh sách những điển hình của tính cách Việt, nhân vật này bao giờ cũng đứng đầu sổ.

Thời xã hội mới bước sang giai đoạn hiện đại hóa, Nguyễn Công Hoan được biết tới như một ngòi bút giàu chất An Nam bậc nhất. Người Việt trong tác phẩm của ông đôi khi cũng ngớ ngẩn ngờ nghệch, nhưng phổ biến và được ông diễn tả sinh động hơn cả là loại láu cá và rất giỏi biến báo trong đối xử. Như viên tri châu nọ,trong truyện Sáu mạng người sau khi bắn nhầm mấy người dân địa phương đi hái thuốc, thì vu cho người ta là giặc khách để báo lên quan trên lấy thưởng. Như gã nhà giàu nọ,có ông chú từ quê lên chơi, muốn đuổi, liền kêu ầm lên mất ví để buộc ông ta phải bỏ về sớm. Và như trường hợp cụ Chánh Bá có đôi giày cũ, nhân đi ăn giỗ, bắt thằng nhỏ vứt béng ra sau vườn, để bắt vạ nhà chủ, buộc người ta mua đền đôi giày mới.
Các nhân vật nông dân của Nguyễn Khải loại như Tuy Kiền cũng nổi tiếng là ranh ma. Trong việc tính toán giành lấy một chút lợi riêng, họ ở vào thế yếu. Luôn luôn họ phải che giấu lẩn tránh và tìm ra mưu mẹo để tự khẳng định. Họ thường hiện ra vừa đáng yêu vừa đáng ghét...

So với “khôn lỏi” “ranh vặt” thì “tinh tướng” có nghĩa hơi khác một chút, nó được dùng để chỉ những người không những đã khôn mà còn muốn phô ra để cho người khác biết. Đọc Ngô Tất Tố, hẳn ai cũng nhớ mẩu chuyện Làm no hay là cái ăn trong những ngày nước ngập. Cái việc khoe rằng mình có sáng kiến chế biến đất ra đủ các loại thức ăn chính là có dấu hiệu của một lối xử thế tinh tướng, dù ở đây, người ta thấy ghét thì ít mà tội nghiệp nhiều hơn.

Vì sao Việt nam không bao giờ hết kẻ thù?

Kami

Mới hôm qua là kẻ thù, hôm nay là đồng chí tốt và ngày kia... sẽ lại là kẻ thù
Mấy ngày trong tháng 12/2009 các nhà lãnh đạo cao cấp Việt nam có hàng loạt các chuyến công du sang các nước Nga, Hoa kỳ, Pháp, Hàn quốc... nhằm tìm kiếm đồng minh và tăng cường mua sắm các trang thiết bị quân sự nhằm củng cố và nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội. Cụ thể chuyến đi Nga (từ 15 đến 16 tháng 12) của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, đi Mỹ và Pháp (từ 10 đến 20 tháng 12) của Bộ trưởng quốc phòng Phùng Quang Thanh và một đoàn đại biểu cấp cao của Bộ Quốc phòng Việt Nam do Thứ trưởng, Thượng tướng Nguyễn Huy Hiệu, dẫn đầu đã tới thăm Hàn Quốc (từ 12/12-18/12).

Trong các chuyến thăm nói trên Việt Nam đã hoàn tất một số hợp đồng mua vũ khí quan trọng với Nga, Pháp và nâng cao mức quan hệ về quốc phòng với Hoa kỳ, Hàn quốc được giới phân tích và bình luận đánh giá là những động thái nhằm tỏ rõ dấu hiệu quan ngại trước sự bành trướng hải quân của Trung quốc trên Biển Đông, nó không chỉ đơn giản là sự phô trương mà đã và đang trở thành mối đe dọa tới an ninh quốc phòng của Việt nam. Các hoạt động dồn dập và sôi nổi trong lĩnh vực này được cho là chỉ dấu cho xu hướng đa phương hóa và hiện đại hóa quân đội Việt Nam để đối phó với các thách thức của thời kỳ mới, nhất là sự lớn mạnh về quân sự của Trung Quốc.

Mặt khác các chuyến thăm trên cũng cho thấy nhà nước Việt nam đang tăng cường thắt chặt mối quan hệ quân sự mới với Nga vốn một thời là một người đồng chí, anh em hàng đầu đã từng viện trợ cho họ trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ và đặc biệt là đồng minh tin cậy duy nhất sau khi mối quan hệ với Bắc Kinh tan vỡ, bằng cuộc chiến tranh biên giới phía bắc năm 1979. Với Hoa kỳ cũng vậy, là một quốc gia cựu thù từng được coi là kẻ thù số một trong giai đoạn Chiến tranh lạnh, mà kể cả khi hai nước đã bình thường hóa quan hệ cho đến nay thì sự ngờ vực vẫn của nhà nước Việt nam vẫn có xu hướng giảm bớt một cách khiêm tốn. Thì chuyến đi thăm vừa qua của Bộ trưởng Bộ quốc phòng Phùng Quang Thanh được coi là một bước tiến mới và là đánh dấu sự phát triển trong quan hệ quân sự song phương, như Đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ, ông Lê Công Phụng đánh giá cho rằng "hợp tác với Mỹ là hết sức cần thiết". Đối với nước Pháp cũng vậy, từng bị liệt vào là một trong ba đế quốc to bị thua trận ở Việt nam, tuy không thuộc dạng kẻ thù nguy hiểm như Hoa kỳ thì chuyến đi thăm của ông Phùng Quang Thanh được đánh giá là mở cơ chế đối thoại trực tiếp giữa bộ quốc phòng hai nước để xây dựng lòng tin và "tránh hiểu nhầm".

Nhìn lại lịch sử cận đại của Việt nam trong những năm thế kỷ 20 đến nay, đặc biệt là từ năm 1945 khi nhà nước Việt nam dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN thì một điều người ta dễ nhận thấy trong quan hệ đối ngoại của họ với các quốc gia thuộc hạng nước lớn như Nga (Liên xô), Trung quốc, Mỹ , Pháp, Nhật v.v.. từ bạn thành thù rồi lại từ thù trở thành bạn quay đi quay lại đến mức khó hiểu.

Điển hình là quan hệ với Trung quốc và Hoa kỳ.

Đối với Trung quốc, sau ngày 1/10/1949 với sự ra đời của nước CHND Trung Hoa là một nước đã có công rất lớn trong việc chi viện sức người sức của cho sự thắng lợi của cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp(1946-1954) và chống đế quốc Mỹ giải phóng miền Nam Việt nam (1954-1975) của đảng và nhà nước Việt nam. Nhưng ngay sau đó quan hệ Việt nam - Trung quốc xấu đi một cách nhanh chóng và đỉnh cao là cuộc chiến tranh biên giới phía bắc (1979-1988), ngày 17 tháng 2 năm 1979, sau khi Việt Nam và Liên bang Xô viết ký kết Hiệp ước Hòa bình và Hợp tác, và sáu tuần sau khi Việt Nam xâm chiếm Campuchia, Trung Quốc đã tuyên bố một cuộc tấn công chống lại Việt Nam dọc theo biên giới chia cắt hai quốc gia. Quan hệ với Trung quốc khi đó trong chính sách đối ngoại, được đảng CSVN xác định là kẻ thù nguy hiểm trước mắt và lâu dài, điều này được ghi rõ trong Hiến pháp nước CHXHCN Việt nam năm 1981, mối quan hệ căng thẳng đó được kéo dài cho tới năm 1991 khi hệ thống XHCN ở Liên xô và các nước Đông Âu tan rã. Điều ngạc nhiên sau khi quan hệ giữa hai đảng và hai nhà nước Việt nam và Trung quốc được bình thường hóa thì nó lại được phát triển rất nhanh chóng, từ mối quan hệ giữa hai kẻ thù chuyển thành mối quan hệ hữu nghị đặc biệt được tô thắm bằng 16 chữ vàng và tinh thần 4 tốt.

Vậy thì sao hôm nay nhà nước Việt nam lại ráo riết mua sắm trang thiết bị quốc phòng để chống lại họ?

Nhóm tình báo Con Nai (Hoa Kỳ) chụp ảnh với Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp (7/1945)
Tương tự đối với Hoa kỳ cung không hề khác, ngay từ khi chưa giành được chính quyền đảng CSVN khi đó đang hoạt động dưới danh nghĩa của Mặt trận Việt minh người đứng đầu là Hồ Chí Minh tổ chức đánh Pháp kháng Nhật. Ngay từ khi ấy, Việt minh đã bắt tay với Hoa kỳ thông qua nhóm tình báo Con Nai (Deer Team) thuộc OSS. Theo lời đề nghị của Hồ Chí Minh, nhóm Con Nai nhảy dù xuống Tân Trào tháng 7 năm 1945 để giúp đỡ trong việc huấn luyện các chiến sĩ Việt Minh đánh Nhật đồng thời chuyển giúp thư của Hồ Chí Minh đến chính phủ Mỹ, đề nghị Tổng thống Truman công nhận độc lập của Việt Nam. Tiếc rằng lịch sử đã đi theo hướng hai nước trở thành đối thủ trong cuộc chiến 20 năm hủy diệt từ 1954-1975 với sự thất bại của người Mỹ. Sau khi chiến tranh kết thúc, quan hệ hai nước cũng không hề được cải thiện, Hoa kỳ đã dùng biện pháp cấm vận kinh tế nhằm làm suy yếu nhà nước Việt nam. Tình trạng đó kéo dài cho tới 3.2.1994 khi quan hệ hai nước Việt nam Hoa kỳ được chính quyền Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa và ngày càng phát triển không ngừng cho đến ngày hôm nay, khi mà các động thái của nhà nước Việt nam cho chúng ta hiểu rằng họ đang mượn tay Hoa kỳ làm đối trọng trong quan hệ với Trung quốc.

Tuy ai cũng hiểu rõ rằng trong chính trị không có bạn bè hay kẻ thù vĩnh viễn, nhưng nhìn lại hai ví dụ trên về quan hệ giữa Việt nam-Trung quốc và Việt nam-Hoa kỳ cho thấy nhà nước Việt nam dưới sự lãnh đạo của đảng CSVN từ trước tới nay, không có một chủ trương nhất quán trong quan hệ đối ngoại với các nước, đặc biệt là các cường quốc.

Chính sách đối ngoại đó thay đổi quá nhanh trong việc chuyển từ kẻ thù thành bạn rồi từ bạn thành kẻ thù, việc đó cho người ta có cảm giác con đường của quan hệ đối ngoại của nhà nước Việt nam ví như đường đi của một chú kiến bò quanh quẩn miệng chén. Chính cái đó dẫn tới nguy cơ nổ ra các cuộc chiến tranh đã gần như trở thành chu kỳ có thể dự định trước được, tựu chung các cuộc chiến đó dần trở thành hy sinh xương máu vô ích bởi mới là kẻ thù đánh nhau chán chê, xong lại thành bạn. Xưa ta "chống Mỹ cứu nước" thề quét sạch không còn một tên xâm lược trên đất nước ta, thì sao ngày hôm nay chúng ta lại "Đón Mỹ cứu nước" trải thảm đỏ đón kẻ xâm lược năm xưa quay lại với danh nghĩa nhà đầu tư tư bản nước ngoài?

Chúng ta thường thấy khẩu hiệu "Nguyện đi theo con đường của Bác Hồ đã chọn" được treo đầy ngoài đường phố, khẩu hiệu này còn được các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Chính phủ , Quốc hội và các tổ chức quần chúng ghi trong các cuốn sổ lưu niệm trong những ngày viếng Bác. Vậy xin hỏi, con đường mà trong công tác đối ngoại, quan hệ hợp tác quốc tế kiểu "hôm qua là bạn, hôm nay là kẻ thù và ngày mai sẽ lại là bạn" diễn đi diễn lại mấy chục năm qua có phải là con đường Bác Hồ đã chọn hay không? Vì con đường mà công tác đối ngoại, quan hệ hợp tác quốc tế Việt nam chúng ta đã đi trong mấy chục năm qua này là con đường sai lầm, nó làm cho Việt nam chúng ta chưa hết kẻ thù này lại xuất hiện kẻ thù khác ngay lập tức, cứ theo con đường này thì 1.000 năm nữa nước ta cũng không hết kẻ thù và các thế lực thù địch. Cả dân tộc luôn luôn phải sẵn sàng đối phó với nhiều loại kẻ thù, không được lơ là để dốc toàn lực vào công cuộc xây dựng kinh tế, kiến thiết đất nước.

Việc mua sắm vũ khí hiện đại trang bị cho quốc phòng nâng cao sức mạnh sẵn sàng chiến đấu của quân đội là một việc cần thiết của mọi quốc gia không chỉ riêng Việt nam. Nhưng để phát huy hiệu quả, trong công tác đối ngoại Việt nam cần phải giữ quan hệ tốt, làm bạn với tất cả các quốc gia trên thế giới và duy trì mối quan hệ hài hòa giữ được khoảng cách hợp lý cần thiết giữa các nước lớn trên cơ sở các bên đều có lợi, phải tôn trọng độc lập, tự chủ và chủ quyền lãnh thổ. Việc nghiêng hẳn để dựa vào một quốc gia nào đó như chính quyền Việt nam Cộng hòa hay chính quyền Việt nam cộng sản những năm trước đây chính là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh xung đột triền miên hàng chục năm trời, biến Việt nam thành địa điểm đối đầu của các cường quốc, người Việt nam bị chia rẽ thành các phe phái và bị mượn tay cầm súng bắn giết lẫn nhau nhằm phục vụ cho lợi ích của các cường quốc.

Một đất nước trải dài với hàng ngàn km bờ biển với dân số 80 triệu dân, nằm một vị trí chiến lược trong bản đồ chính trị khu vực và thế giới như Việt nam ắt sẽ nằm trong sự dòm ngó của các nước lớn. Vũ khí duy nhất đảm bảo an ninh và sự bình yên của tổ quốc sẽ không hoàn toàn là phải dựa vào sức mạnh của quân đội hay vũ khí chiến tranh. Vì một thực tế cho thấy nếu xảy ra chiến tranh với các cường quốc, nếu chỉ độc lập, không dựa vào một cường quốc khác làm chỗ dựa thì việc sử dụng sức mạnh đoàn kết toàn dân và sử dụng chiến tranh nhân dân là sức mạnh vô địch duy nhất mà chúng ta có thể lựa chọn.

Đường lối đối ngoại của một chính đảng chính trị không thể là nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân, nếu như chính đảng cầm quyền đó không ra đời từ nguyện vọng thông qua lá phiếu bầu thể hiện sự lựa chọn thực sự của quần chúng trong một cuộc bầu cử tự do thực sự công bằng và dân chủ. Có như vậy thì đảng chính trị nào không có chính sách đối ngoại khéo léo với các cường quốc, gây nên mối đe dọa về an ninh về chủ quyền quốc gia và làm ảnh hưởng tới cuộc sống của người dân và coi trọng quyền lợi cục bộ của đảng mình, đặt quyền lợi dân tộc và đất nước dưới quyền lợi của đảng chắc chắn sẽ bị nhân dân đồng lòng loại bỏ bằng lá phiếu của mình.

Không phải nhìn đâu xa, cứ xem các nước trong khu vực Đông nam Á có nền dân chủ phát triển như Thái lan, Singapore, Malaixia, Indonexia và cả Philipines... họ đâu có sợ các nước lớn.

Một nhà nước pháp quyền và một xã hội dân sự nơi mà mọi người dân đều sống, làm việc và được đối xử bình đẳng theo Hiến pháp và pháp luật. Đó chính là một nhà nước của dân, do dân và vì dân, khi đó người dân tự làm chủ vận mệnh cá nhân và vận mệnh tổ quốc mình một cách thực sự là yếu tố quan trọng để tạo nên sự đồng thuận, sự đoàn kết nhất trí của mọi tầng lớp nhân dân Việt nam trong và ngoài nước.

Khẩu hiệu "Đầu hàng hay đánh" tại Hội nghị Diên hồng cách đây hàng trăm năm của Vua tôi nhà Trần và các vị bô lão vẫn là một bài học cần ghi nhớ, đó chính là kết quả của sự đồng thuận và đoàn kết nhất trí của nhân dân Đại Việt năm xưa.

Bằng sức mạnh đó dân tộc Việt nam đã ba lần đánh gục đội quân Nguyên Mông hùng mạnh một thủa, những kẻ đã chinh phục một nửa thế giới từ đông sang tây bằng vó ngựa nhưng đến đất Việt nam lại là tử địa của chúng.

Bằng sức mạnh đó mà sau hơn 1000 năm Bắc thuộc người Trung quốc không thể đồng hóa được người Việt như hàng trăm tộc người khác hôm nay đã buộc trở thành người Trung quốc trên quê hương của họ như Mãn châu, Tây tạng, Tân cương v.v..

Đó chính là do sức mạnh vô địch của tinh thần đoàn kết của dân tộc Việt nam. Sức mạnh đó không có thứ vũ khí nào có thể khuất phục được.

st

Danh sách Blog của Tôi