Oprah đàm đạo với Thích Nhất Hạnh

Bản dịch của Lê Quốc Tuấn (X-café 16 & 19-2-10)

Ông là một nhà sư Phật giáo trong hơn 60 năm, đồng thời cũng là người dạy học, cầm bút và là một người phản chiến mạnh mẽ -một lập trường khiến ông còn bị đày lưu vong khỏi quê hương Việt Nam của mình trong bốn thập kỷ qua. Bây giờ người từng được Martin Luther King Jr. xưng tụng là "một tông đồ của hòa bình và bất bạo động" tỏa ra trong cái đẹp của giây phút hiện tại, trong sự trân trọng với từng hơi thở, sự tự chủ cùng niềm hạnh phúc tìm được trong một tách trà đơn giản.

Giờ phút gặp gỡ nhà sư Thích Nhất Hạnh tại Khách sạn Bốn Mùa (Four Seasons) ở Manhattan, tôi cảm nhận được vẻ trầm lắng của ông. Một sự thanh thản sâu sắc như vây tỏa quanh vị Thiền sư Phật giáo.

Tuy nhiên, bên trong phong thái thanh thản của sư Nhất Hạnh là một người chiến binh dũng cảm. Con người 83 tuổi này có quê quán từ Việt Nam đã đi tu khi 16 tuổi, từng can đảm phản đối chính phủ của mình trong sốt thời gian chiến tranh Việt Nam. Ngay cả khi chấp nhận cuộc sống chiêm niệm của một nhà sư, cuộc chiến tranh ấy đã đối đầu với ông bằng lựa chọn: có nên cứ ẩn mình trong tu viện để chăm sóc những vấn đề của tinh thần, hay bước ra bên ngoài để giúp đỡ những người dân làng đang chịu đau khổ? Quyết định thực hiện cả hai là những gì đã sinh ra "Phật Giáo Dấn thân" một phong trào liên quan đến các hoạt động hòa bình nhằm mục đích cải cách xã hội. Và đó cũng là những gì đã đưa đến việc Martin Luther King Jr đề cử giải Nobel Hòa bình cho ông vào năm 1967.

Sư Nhất Hạnh đã thành lập một tổ chức cứu trợ để xây dựng lại những làng quê bị bom đạn tại Việt Nam, xây trường học, các trung tâm y tế và giúp ổn định những gia đình mất nhà mất cửa như một phần bản cáo trạng của ông đối với các bạo lực gây đau khổ đến người dân của mình. Thầy Nhất Hạnh cũng đã xây dựng một trường đại học Phật giáo, một nhà xuất bản, một tạp chí tranh đấu cho hòa bình, tất cả những điều ấy đã dẫn đến việc chính phủ Việt Nam ngăn cấm ông trở về nước vào năm 1966 sau khi ông rời đất nước trong một chuyến đi cho sứ mệnh hòa bình. Ông vẫn sống lưu vong trong 39 năm nay.

Trước khi lưu vong, sư Nhất Hạnh đã trải qua môt thời gian ở phương Tây (theo học tại ĐH. Princeton và giảng dạy tại Đại học Columbia vào đầu những năm 1960) và đấy chính là phương Tây mà giờ đây ông đã trở lại. Nhìn ra các cơ hội để truyền bá tư tưởng Phật giáo và cổ vũ cho các hoạt động tranh đấu cho hòa bình, ông đã dẫn đầu đoàn đại biểu Phật giáo Hòa bình đến Hội đàm Hòa bình ở Paris năm 1969, thành lập Giáo hội Phật giáo Thống nhất tại Pháp, và tiếp tục viết hơn 100 cuốn sách, trong đó có tác phẩm bán chạy nhất năm 1995 mang tựa đề “Bụt ngàn đời, Chúa ngàn đời” (Living Buddha, Living Christ) một cuốn sách mà lúc nào cũng ở trên đầu giường ngủ của tôi.

Sau cùng sư Nhất Hạnh đã định cư tại miền Nam nước Pháp và thành lập Làng Mai, một tu viện đồng thời là một trung tâm hành thiền Phật giáo, nơi ông vẫn còn sinh sống ở đấy. Mỗi năm, hàng ngàn người đã đến đó để tham dự vào việc khai phá những giáo lý của Phật giáo- gồm chánh niệm (sự hòa hợp chủ định vào thời điểm hiện tại), phát triển tu tập (một hoạt động thường xuyên như thiền hành giúp hướng đến sự suy nghĩ đúng), và giác ngộ (sự giải thoát khỏi khổ đau vốn đến khi ta thức tỉnh với bản chất thật của thực tại). Những nguyên tắc này đã được giới thiệu với thế gian hơn 2.000 năm trước bởi Siddhartha Gautama, hay Ðức Phật, một vị hoàng tử Ấn độ đã từ bỏ một cuộc sống thỏa mãn và dễ dàng để đi tìm sự giác ngộ- và từ đó đã hình thành một tôn giáo.

Nhà sư Thích Nhất Hạnh - hoặc “thầy”, từ ngữ tiếng Việt để gọi người “thầy dạy“ như các môn đệ của ông dùng, đã đến cùng với một nhóm tăng ni Làng Mai để lắng nghe cuộc hội thoại của chúng tôi. Trong một số truyền thống tâm linh, có một khái niệm gọi là "giữ chỗ", hoặc tham dự như một thính giả có lòng bác ái. Các bằng hữu của Thầy là những người giữ chỗ, đã đi theo với thầy từ Pháp, và khi chúng tôi chụp ảnh chung trước khi khởi sự trò chuyện, họ đem đến một trạng thái an bình bằng cách cùng hát một bài ca Phật giáo: "Chúng ta là tất cả các lá của cây; chúng ta là tất cả các sóng của biển; đến lúc để mọi chúng ta được sống như một".

Oprah: Xin cảm tạ ngài đã cho tôi được vinh dự nói chuyện với ngài. Chỉ cần được ở trong sự hiện diện của ngài, tôi đã cảm thấy ít căng thẳng hơn khi bắt đầu một ngày. Phải chăng lúc nào ngài cũng luôn ở trong trạng thái này?

Nhất Hạnh: Đấy chính là sự tu tập, sự thực hành của tôi. Và tôi cố gắng sống như thế trong mọi giây phút để giữ được an bình trong bản thân mình.

Oprah: Bởi vì ta không thể mang điều gì đến cho người khác nếu mình không có trong tự bản thân.

Nhất Hạnh: Đúng thế.

Oprah: Tôi biết rằng thầy đã được sinh ra ở Việt Nam năm 1926. Có ký ức đẹp đẽ nào của tuổi thơ mà thầy có thể chia sẻ với chúng tôi?

Nhất Hạnh: Đó là ngày tôi thấy được hình ảnh của Đức Phật trong một tờ tạp chí.

Oprah: Khi ấy thầy đưọc bao nhiêu tuổi?

Nhất Hạnh: Tôi đã được 7, 8 tuổi. Phật ngồi trên cỏ, mỉm cười rất yên bình.Tôi thấy rất cảm kích. Xung quanh tôi, không ai được như vậy, vì thế tôi đã mong muốn được như ngài. Và tôi đã nuôi dưỡng ao ước ấy cho đến khi 16 tuổi, khi tôi đã có được sự cho phép của cha mẹ tôi để đi quy y.

Oprah: Cha mẹ của thầy có khuyến khích thầy không?

Nhất Hạnh: Ban đầu, song thân tôi miễn cưỡng, vì họ nghĩ rằng cuộc đời của một nhà sư là khó khăn.

Oprah: Ở tuổi 16, thầy có hiểu được cuộc đời sẽ ra sao không?

Nhất Hạnh: Không nhiều lắm. Chỉ có một lòng ham muốn rất mạnh. Cái cảm giác mình sẽ không được hạnh phúc nếu không thể trở thành một nhà sư. Ta gọi đấy là tâm thức của người mới bắt đầu – cái ý định sâu sắc, khát vọng sâu nhất mà một người có thể có. Và tôi có thể nói rằng cho đến ngày nay, cái tâm thức của một người mới bắt đầu học vẫn còn sống trong tôi.

Oprah: Đó là điều mà nhiều người đề cập đến như là một niềm đam mê. Đó là cách mà tôi cảm nhận về công việc của tôi hàng ngày. Khi ta đam mê công việc của mình, ta sẽ cảm thấy như mình sẽ làm việc ngay cả khi không được ai trả tiền.

Nhất Hạnh: Và ta sẽ yêu thích nó.

Oprah: Ta sẽ yêu thích nó. Chúng ta hãy nói về chuyện khi thầy mới đến Mỹ. Thầy là một sinh viên ở Princeton. Có phải đấy là một thử thách để đánh bạn với các sinh viên khác khi thầy là một nhà sư Phật giáo hay không? Thầy có cô đơn không?

Nhất Hạnh: Vâng, Đại học Princeton giống như một tu viện. Lúc ấy chỉ có nam sinh viên. Và cũng không có nhiều người Việt sinh sống tại Hoa Kỳ. Trong sáu tháng đầu tiên, tôi đã không nói tiếng Việt. Nhưng khu làng đại học rất đẹp. Và mọi thứ đều mới lạ -cây cối, các loài chim và thức ăn. Tuyết trắng đầu đời của tôi là ở Princeton, và đấy lần đầu tiên tôi sử dụng lò sưởi. Mùa thu đầu tiên là ở Princeton.

Oprah: Khi những chiếc lá chuyển màu.

Nhất Hạnh: Ở Việt Nam chúng tôi đã không thấy những thứ như thế.

Oprah: Vào lúc đó, thầy có mặc áo nhà sư của mình không?

Nhất Hạnh: Có.

Oprah: Không bao giờ phải lo lắng về việc mua quần áo nhỉ? Lúc nào cũng chỉ là áo cà sa.

Nhất Hạnh: Đúng thế.

Oprah: Thầy có các loại y áo cho những dịp khác nhau không?

Nhất Hạnh: Mình có một áo nghi lễ màu vàng nghệ tây. Thế thôi. Tôi cảm thấy thoải mái khi ăn vận những y áo này. Và chúng vui vẻ nhắc nhở chúng tôi rằng mình là các nhà sư.

Oprah: Là một nhà sư có nghĩa là gì?

Nhất Hạnh: Là một nhà sư có nghĩa là có thời gian để tu tập cho sự chuyển hóa của mình. Và sau đó để giúp người khác chuyển hóa.

Oprah: Có phải hầu hết các nhà sư đều giác ngộ, hay tìm kiếm sự giác ngộ?

Nhất Hạnh: Giác ngộ luôn luôn ở đó. Giác ngộ nhỏ bé sẽ mang lại giác ngộ lớn. Nếu ta hít vào và nhận thức được mình đang sống - nhận thức được mình có thể chạm vào phép lạ của việc đang sống - thì đó chính là một loại giác ngộ. Nhiều người đang sống nhưng không hề chạm vào phép lạ của sự đang được sống.

Oprah: Tôi tin chắn rằng thầy thấy tất cả xung quanh mình – và tôi cũng cảm thấy bản thân mình có sai lầm ấy – đó là chúng ta chỉ luôn cố gắng cho xong để đi đến việc kế tiếp. Ở đất nước chúng ta, con người rất bận rộn. Ngay cả trẻ em cũng bận rộn. Tôi có cảm tưởng rất ít người trong chúng ta thực hành những gì thầy vừa nói - về việc chạm vào phép lạ mà mình đang được sống.

Nhất Hạnh: Đó là môi trường mà con người đang sống. Nhưng với một sự tu tập, chúng ta sẽ luôn luôn được sống ngay trong thời điểm hiện tại. Với chánh niệm, bạn có thể kiến lập bản thân mình trong hiện tại để có thể chạm vào các kỳ diệu của đời sống đang có sẵn trong khoảnh khắc ấy. Có thể sống được hạnh phúc ở ngay lúc này. rất nhiều điều kiện của hạnh phúc đang có sẵn - quá đủ để ta được hạnh phúc ngay bây giờ. Ta không cần phải chạy vào tương lai để tìm nhiều hạnh phúc hơn.



Nhà sư Thích Nhất Hạnh định nghĩa hạnh phúc và tiết lộ làm thế nào để đạt được hạnh phúc

Oprah: Hạnh phúc là gì?

Nhất Hạnh: Hạnh phúc là chấm dứt sự khổ đau. Sự sảng khoái. Ví dụ, khi tôi thực hành bài tập thở vào này, tôi nhận thức bằng đôi mắt của mình, khi thở ra, tôi mỉm cười với đôi mắt của tôi và nhận ra rằng đôi mắt mình vẫn còn trong tình trạng tốt. Có cả một thiên đường của sắc và màu trên thế gian. Và bởi vì ta có đôi mắt mình vẫn còn trong tình trạng tốt, bạn có thể liên lạc được với thiên đường này. Vì vậy, khi tôi trở thành nhận thức được về đôi mắt của mình, tôi đã chạm được với một trong những điều kiện của hạnh phúc. Và khi tôi chạm được, hạnh phúc sẽ đến.

Oprah: Và ta có thể làm điều đó với mọi phần của cơ thể.

Nhất Hạnh: Đúng thế. Thở vào, tôi nhận thức được trái tim của tôi. Thở ra, tôi mỉm cười với trái tim của tôi và biết rằng trái tim của tôi vẫn còn hoạt động bình thường. Tôi cảm thấy biết ơn đối với trái tim tôi.

Oprah: Như thế là về sự tỉnh thức và biết ơn đối với những gì chúng ta có.

Nhất Hạnh: Đúng vậy.

Oprah: Và không chỉ tỉnh thức, biết ơn về vật chất, mà về sự thực là chúng ta có hơi thở của mình.

Nhất Hạnh: Đúng như thế. Ta cần thực hành chánh niệm để đưa tâm trí của mình trở lại cơ thể và kiến lập bản thân mình trong thời điểm hiện tại. Nếu ta hoàn toàn là hiện tại, ta chỉ cần thực hiện một bước hoặc hít nột hơi thở để bưóc vào vương quốc của Ðức Chúa Trời. Và một khi đã có vương quốc, ta không cần phải chạy theo các đối tượng của tham ái , như quyền lực, danh vọng, những lạc thú xác thịt vv. An bình là có thể. Hạnh phúc là có thể. Và lối thực hành này đủ đơn giản để tất cả mọi người thực hành.

Oprah: Xin cho tôi biết làm thế nào để chúng tôi thực hiện.

Nhất Hạnh: Giả sử bạn đang uống một tách trà. Khi cầm tách trà trên tay, bạn có thể hít thở vào, để đưa tâm thức của bạn trở về cơ thể của bạn, và bạn trở nên hoàn toàn hiện tại. Và khi bạn đang thật sự ở đấy, những điều khác cũng đang ở đấy, cuộc sống, tiêu biểu bởi một tách trà. Tại thời điểm đó bạn là thực, và tách trà là thực. Bạn không bị lạc mất vào quá khứ, tương lai, trong các dự án, các lo lắng của bạn. Bạn đang thoát khỏi tất cả các phiền não. Và trong tình trạng được giải thoát như thế, bạn thưởng thức tách trà của mình. Đó là thời điểm của hạnh phúc và bình an. Khi bạn đánh răng của bạn, bạn có thể có chỉ hai phút, nhưng theo lối thực hành này, có thể mang lại tự chủ và niềm vui trong khoảng thời gian ấy, bởi vì bạn được hình thành ngay tại lúc này. Nếu bạn có khả năng đánh răng trong chánh niệm thì bạn sẽ có thể tận hưởng thời gian mình tắm vòi sen, nấu bữa ăn sáng, nhâm nhi tách trà của mình.

Oprah: Như vậy từ quan điểm này, có vô tận các điều kiện của hạnh phúc.

Nhất Hạnh: Đúng. Chánh niệm giúp bạn trở về trong hiện tại. Và mỗi khi bạn trở về, nhận ra một điều kiện của hạnh phúc mà bạn đang có, hạnh phúc lại đến.

Oprah: Với thầy, tách trà là thực.

Nhất Hạnh: Tôi là thực, và tách trà là thực. Tôi đang ở trong hiện tại. Tôi không nghĩ về quá khứ. Tôi không nghĩ về tương lai. Có một cuộc gặp gỡ thực giữa tôi và trà, và hòa bình, hạnh phúc,và niềm vui là khả hữu trong thời gian tôi uống trà.

Oprah: Tôi chưa bao giờ suy nghĩ nhiều như thế về một tách trà.

Nhất Hạnh: Chúng tôi có thực hành thiền trà. Chúng tôi ngồi xuống, tận hưởng tình anh em, chị em và một tách trà. Phải mất một giờ để vừa thưởng thức một tách trà.

Oprah: Một tách trà, như thế này? [Cô đưa tách trà của mình lên]

Nhất Hạnh: Đúng .

Oprah: Một giờ?

Nhất Hạnh: Mỗi khoảnh khắc là một khoảnh khắc của hạnh phúc. Và trong giờ thiền trà, bạn nuôi dưỡng niềm vui, tình anh em, chị em và bạn cư trú ngay trong hiện tại.


Về việc cộng đồng đã đóng vai trò quan trọng như thế nào trong suốt 39 năm lưu vong của ông

Oprah: Thầy có thực hành như thế với tất cả mọi loại thức ăn?

Nhất Hạnh: Có. Chúng tôi có những bữa ăn im lặng trong một cách mà chúng tôi liên lạc với vũ trụ, trong từng miếng ăn.

Oprah: Hết bao lâu để thầy trải qua một bữa ăn? Cả ngày?

Nhất Hạnh: Một giờ là đủ. Chúng tôi cùng ngồi như một cộng đồng, và cùng thưởng thức bữa ăn của chúng tôi với nhau. Vì vậy, cho dù bạn đang ăn, đang uống trà của bạn, hoặc làm các món ăn của bạn, bạn làm điều đó trong một cách thức có tự do, niềm vui và hạnh phúc. Nhiều người đến trung tâm của chúng tôi và tìm hiểu nghệ thuật sống tỉnh thức này. Rồi trở về quê nhà của họ và thiết lập một Tăng đoàn (Sangha), một cộng đồng, để thực hành những điều ấy. Chúng tôi đã giúp thiết lập nhiều tăng đoàn toàn thế giới.

Oprah: Tăng đoàn là một cộng đồng yêu thương.

Nhất Hạnh: Đúng thế.

Oprah: Một cộng đồng như thế quan trọng ra sao trong cuộc sống của chúng ta? Con người có cộng đồng yêu thương với gia đình riêng của mình, sau đó ta mở rộng cộng đồng yêu thương của mình để bao gồm cả những người khác. Vì vậy, các cộng đồng yêu thương của bạn càng lớn hơn, bạn càng có thể hoàn thiện hơn trên thế giới.

Nhất Hạnh: Phải vậy.

Oprah: Trong chủ đề về cộng đồng, chúng ta hãy trở lại thời gian năm 1966. Ngài được mời đến nói chuyện tại Đại học Cornell, chẳng bao lâu sau, ngài đã không được phép trở về đất nước của mình. Ngài đã bị lưu đày suốt 39 năm. Ngài đã đối phó với những cảm xúc ấy ra sao?

Nhất Hạnh: Vâng, tôi đã giống như một con ong bị đưa ra khỏi tổ. Nhưng bởi vì tôi đã mang cộng đồng yêu thương theo trong trái tim của mình, tôi đã tìm các yếu tố của tăng đoàn xung quanh tôi ở châu Mỹ và châu Âu. Và tôi đã bắt đầu xây dựng một cộng đồng làm việc cho hòa bình.

Oprah: Thoạt tiên thầy có cảm thấy tức giận, đau đớn không?

Nhất Hạnh: Tức giận, lo lắng, buồn và đau đớn. Các thực hành chánh niệm đã giúp tôi nhận ra những điều đó. Trong năm đầu tiên, hầu như đêm nào tôi cũng nằm mơ được đi về nhà. Tôi đã leo lên một ngọn đồi xinh đẹp, rất xanh, rất vui, và đột nhiên tôi tỉnh dậy và thấy rằng tôi đã bị lưu đày. Vì vậy, tu tập của tôi là để liên lạc với các loại cây, chim chóc, hoa lá, các trẻ em, người dân ở phương Tây - và làm họ thành cộng đồng của tôi. Và nhờ tu tập đó, tôi tìm thấy mái ấm bên ngoài gia đình tôi. Một năm sau đó, những giấc mơ ngừng lại.

Oprah: Lý do gì khiến thầy không được phép trở lại đất nước?

Nhất Hạnh: Trong thời gian chiến tranh, tất cả các bên tham chiến đều tuyên bố rằng họ muốn đánh nhau đến tận cùng. Và những người của chúng tôi đã cố gắng để nói chuyện hòa giải giữa anh em với anh em - họ đã không cho phép chúng tôi làm như thế.

Oprah: Thế là khi thầy là một người không có tổ quốc, thầy đã tạo nên một mái gia đình trong các nước khác.

Nhất Hạnh: Đúng.

Oprah: Và Hoa Kỳ là một trong những mái ấm gia đình đó.

Nhất Hạnh: Đúng thế.

Oprah: Thầy đã gặp Martin Luther King như thế nào?

Nhất Hạnh: Vào tháng 6 năm 1965, tôi đã viết cho ông ta một lá thư giải thích lý do tại sao các nhà sư ở Việt Nam đã hiến mình. Tôi cho rằng, đây không phải là sự tự sát. Tôi cho rằng, trong những tình huống như ở Việt Nam, làm cho tiếng nói của mình đưọc nghe đến là sự khó khăn. Đôi khi chúng tôi phải tự thiêu mình để được lắng nghe. Đó là vì lòng từ bi mà ta làm điều đó. Đó là hành động của tình yêu chứ không phải của thất vọng. Rồi chính xác một năm sau khi tôi viết lá thư ấy, tôi đã gặp ông tại Chicago. Chúng tôi đã có một cuộc thảo luận về hòa bình, tự do, và cộng đồng. Và chúng tôi đã đồng ý rằng không có một cộng đồng, chúng ta không thể đi xa lắm.

Oprah: Cuộc thảo luận ấy dài bao lâu?

Nhất Hạnh: Có lẽ là năm phút hoặc lâu hơn. Sau đó, có một cuộc họp báo, và ông đã biểu lộ thái độ rất mạnh mẽ chống lại cuộc chiến tranh ở Việt Nam.

Oprah: Thầy có nghĩ rằng đó là kết quả từ cuộc hội thoại của mình?

Nhất Hạnh: Tôi tin như vậy. Chúng tôi đã tiếp tục công việc của chúng tôi, và lần cuối tôi đã gặp ông là ở Geneva trong thời gian hội nghị hòa bình.

Thích Nhất Hạnh mô tả phương cách tốt nhất và duy nhất để loại trừ khủng bố

Oprah: Hai người khi ấy có phát biểu gì không?

Nhất Hạnh: Có. Ông mời tôi đến ăn sáng, để nói về những vấn đề này một lần nữa. Tôi đã bị bận tại một cuộc họp báo ở tầng dưới phải đến trễ, nhưng ông vẫn chờ. Tôi nói với ông rằng người dân ở Việt Nam gọi ông là Bồ Tát- bậc giác ngộ, vì những gì ông đã làm cho người dân, cho đất nước của ông và thế giới.

Oprah: Và sự thực là ông ấy đã làm một cách bất bạo động.

Nhất Hạnh: Đúng thế. Đó là công việc của một vị Bồ Tát, một đức Phật, luôn luôn có lòng từ bi và bất bạo động. Khi tôi nghe biết về vụ ám sát ông, tôi đã không thể tin được. Tôi nghĩ, "Người dân Mỹ đã tạo nên một vị vua nhưng lại không có khả năng gìn giữ được ngài". Tôi đã có một chút giận dữ. Tôi đã bỏ ăn, bỏ ngủ. Nhưng quyết tâm của tôi để tiếp tục xây dựng một cộng đồng yêu thương luôn luôn được tiếp tục. Và tôi nghĩ rằng tôi luôn cảm nhận được sự ủng hộ của ông.

Oprah: Luôn luôn được hỗ trợ.

Nhất Hạnh: Vâng.

Oprah: Nào, chúng ta đã nói về chánh niệm, và ngài đã đề cập đến đi bộ. Thiền hành nghĩa là thế nào?

Nhất Hạnh: Khi ta đi bộ, ta chạm mặt đất một cách tỉnh thức, và mỗi bước đi có thể mang lại cho bạn sự vững chãi , niềm vui và tự do. Giải thoát khỏi được những ray rứt của quá khứ và những lo sợ về tương lai.

Oprah: Hầu hết mọi người khi đi bộ thường suy nghĩ về nơi mình phải đến và những gì mình phải làm. Nhưng thầy cho rằng như thế sẽ khiến ta không được hạnh phúc chăng?

Nhất Hạnh: Con người hy sinh hiện tại cho tương lai. Nhưng cuộc đời chỉ có sẵn hiện tại. Đó là lý do vì sao chúng ta nên đi bộ theo cách như vậy để mỗi bước đi có thể mang chúng ta đến hiện tại.

Oprah: Thế nếu như tôi còn các hóa đơn chưa trả thì sao? Tôi đi bộ, nhưng suy nghĩ về các hóa đơn.

Nhất Hạnh: Có thời gian cho tất cả mọi thứ. Có thời gian để mình ngồi xuống, tập trung bản thân vào vấn đề hoá đơn của mình, nhưng ta sẽ không lo lắng trước đó. Mỗi lúc làm một việc. Chúng ta thực hành đi bộ trong chánh niệm để tự chữa cho bản thân, bởi vì đi bộ như thế sẽ thực sự khiến chúng ta thoát khỏi các lo lắng, áp lực, những căng thẳng trong thể xác và tâm hồn của chúng ta.

Oprah: Trường hợp này cũng tương tự như việc lắng nghe sâu thẳm, mà tôi đã từng nghe thầy nhắc đến.

Nhất Hạnh: Lắng nghe sâu thẳm là loại lắng nghe có thể giúp làm giảm bớt những khổ đau của tha nhân. Ta có thể gọi là lắng nghe với tâm từ bi. Bạn lắng nghe chỉ với một mục đích là để giúp anh, chị ấy trống rỗng được tâm hồn mình. Ngay cả khi anh chị ấy nói lên những điều đầy những nhận thức sai lầm, cay đắng, bạn vẫn có khả năng tiếp tục lắng nghe với lòng từ bi. Bởi vì mình hiểu rằng khi lắng nghe như vậy, mình đem đến người ấy một cơ hội để vơi bớt đau khổ. Nếu bạn muốn giúp người ấy sửa chữa nhận thức của mình, hãy chờ đến một lúc khác. Để ngay bây giờ, bạn không ngăn trở gián đoạn. Bạn không tranh luận. Bởi vì nếu không, bạn làm mất đi cơ hội của người ấy. Bạn chỉ cần lắng nghe với lòng từ bi và giúp đỡ người ấy vơi bớt khổ đau. Một giờ đồng hồ như thế có thể mang đến được sự chữa trị và chuyển hóa.

Oprah: Tôi thích ý tưởng lắng nghe sâu này, bởi vì thường khi có một ai đến với mình để trút buồn giận, ta hay bị cám dỗ bởi việc sẽ đưa ra lời khuyên bảo. Nhưng nếu mình để cho người ấy cứ bộc lộ các xúc cảm, để lúc khác sẽ trở lại với lời khuyên hay ý kiến ắt người đó sẽ chứng nghiệm được một sự chữa lành sâu sắc. Đó là những gì thầy đang nói.

Nhất Hạnh: Đúng thế. Lắng nghe sâu thẳm giúp chúng ta nhận ra sự tồn tại của những nhận thức sai lầm trong chúng ta và trong tha nhân. Tha nhân có nhận thức sai về chính mình và chúng ta. Chúng ta lại có nhận thức sai về bản thân mình và tha nhân. Và đó chính là nền tảng của bạo lực, xung đột và chiến tranh. Những kẻ khủng bố, họ có nhận thức sai. Họ tin rằng các nhóm khác đang tìm cách tiêu diệt họ như là tiêu diệt một tôn giáo, một nền văn minh. Vì vậy, họ muốn tiêu diệt chúng ta, giết chúng ta trước khi chúng ta có thể giết được họ. Và người chống khủng bố có thể nghĩ hầu như tương tự - rằng đây là những kẻ khủng bố và họ đang cố gắng tiêu diệt mình, vì thế mình phải tiêu diệt chúng trước. Cả hai bên phía đều bị thúc đẩy bởi sợ hãi, tức giận và nhận thức sai. Nhưng nhận thức sai lầm không thể tháo gỡ bằng súng và bom. Nhận thức sai cần phải được loại bỏ bằng cách lắng nghe sâu, nghe từ bi, và không gian yêu thương.

Tại sao đau khổ là hệ trọng, và làm thế nào để chữa lành khổ đau

Oprah: Cách duy nhất để kết thúc chiến tranh là sự cảm thông giữa con người.

Nhất Hạnh: Đúng vậy. Chúng tôi sẽ có thể nói điều này: "Bạn ơi, người thân yêu ơi, tôi biết rằng bạn đau khổ. Tôi không am hiểu đủ những khó khăn và đau khổ của bạn. Tôi không có ý muốn bạn phải đau khổ hơn nữa. Ngược lại. Chúng tôi không muốn bạn khổ đau. Nhưng quả là chúng tôi không biết phải làm gì và chúng tôi có thể làm điều sai lầm nếu bạn không giúp chúng tôi hiểu được. Vì vậy, hãy nói cho chúng tôi về những khó khăn của bạn. Tôi tha thiết muốn học hỏi, muốn hiểu được ".Chúng ta cần có những lời nói yêu thương. Và nếu chúng ta thực sự thành tâm, trung thực, họ sẽ mở lòng họ ra. Sau đó chúng ta thực hành lắng nghe với lòng từ bi, và chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều về nhận thức của chính mình và của họ. Chỉ như thế sau đó chúng ta mới có thể giúp loại bỏ các nhận thức sai. Đó là cách tốt nhất, cách duy nhất, để loại bỏ chủ nghĩa khủng bố.

Oprah: Tuy nhiên, những gì thầy đang nói cũng áp dụng được cho những khó khăn giữa bản thân và các thành viên gia đình hoặc bạn bè. Dù các xung đột có khác nhau các nguyên tắc cũng là như nhau.

Nhất Hạnh: Đúng vậy. Và các cuộc đàm phán hòa bình nên được tiến hành theo cách đó. Khi đến đàm phán, chúng ta không nên thương lượng ngay lập tức. Chúng ta nên dành thời gian đi bộ , ăn uống, làm quen với nhau, nói cho nhau nghe về những đau khổ của mình, mà không buộc tội hay lên án. Có thể phải mất một, hai, ba tuần lễ để làm những điều đó. Và nếu sự cảm thông và hiểu biết là khả thi, cuộc đàm phán sẽ dễ dàng hơn. Vì vậy, nếu tôi tổ chức đàm phán hòa bình, tôi sẽ tổ chức theo cách đó.

Oprah: Thầy sẽ bắt đầu bằng dùng trà?

Nhất Hạnh: Dùng trà và thiền hành.

Oprah: Thiền Trà .

Nhất Hạnh: Và chia sẻ hạnh phúc cùng đau khổ của chúng tôi. Và lắng nghe sâu lắng nghe cùng những lời nói yêu thương.

Oprah: Có nơi chốn nào từng dành cho sự giận dữ?

Nhất Hạnh: Tức giận là năng lượng mà mọi người xử dụng để hành động. Nhưng khi bạn tức giận, bạn sẽ không minh mẫn, và bạn có thể làm những điều sai trái. Đó là lý do tại sao lòng từ bi là một năng lượng tốt hơn. Và năng lượng của từ bi là rất mạnh. Chúng ta đau khổ. Đó là thực tế. Nhưng chúng ta phải học được cách không tức giận và không cho phép mình mang theo giận dữ. Chúng ta nhận thấy ngay rằng đó là sự lo sợ. Đó là sự mục rỗng.

Oprah: Nếu như trong một khoảnh khắc của chánh niệm mà mình bị thách thức thì sẽ ra sao? Ví dụ, một ngày kia có người đem đến tôi một vụ kiện tụng, và thật là khó mà cảm thấy được hạnh phúc khi có ai đó đem mình ra tòa.

Nhất Hạnh: Cách thực hành là đi đến những lo âu, những lo lắng -

Oprah: Nỗi lo sợ. Điều đầu tiên xảy đến là những nỗi sợ xen vào, như thế, tôi sẽ phải làm gì?

Nhất Hạnh: Thì bạn hãy nhận thức nỗi sợ hãi đó. Bạn hãy dịu dàng ôm lấy nỗi sợ và nhìn sâu vào nó. Và khi bạn ôm lấy cơn đau của mình, bạn sẽ có được niềm khuây khỏa và tìm ra cách giải quyết mối xúc cảm. Và nếu bạn biết cách giải quyết nỗi sợ hãi, bạn sẽ có đủ hiểu biết để giải quyết vấn đề. Vấn đề là không để cho nỗi sợ làm chủ. Khi những cảm xúc này nảy sinh, bạn phải thực hành để sử dụng năng lượng của chánh niệm mà nhận ra chúng, ôm lấy chúng, nhìn sâu vào chúng. Cũng giống như một bà mẹ khi em bé khóc. Nỗi lo lắng của mình chính là em bé của mình. Mình cần phải chăm sóc nó. Bạn phải trở về với chính mình, nhận ra những đau khổ trong mình, ôm lấy nỗi đau khổ, và bạn sẽ được niềm khuây khỏa. Và nếu bạn tiếp tục với thực hành chánh niệm của mình, bạn sẽ hiểu đuợc các căn nguyên, bản chất của đau khổ, và bạn sẽ biết cách để biến đổi chúng.

Oprah: Thầy dùng từ đau khổ rất nhiều. Tôi nghĩ rằng nhiều người cho đau khổ là sự đói kém hoặc nghèo khổ vô cùng. Nhưng khi nói về đau khổ, thầy muốn nói về điều gì?

Nhất Hạnh: Tôi muốn nói đến những sợ hãi, tức giận, thất vọng và lo âu trong chúng ta. Nếu ta biết đối phó với những điều đó, ta sẽ có thể giải quyết được các vấn đề chiến tranh, đói nghèo và xung đột. Nếu chúng ta có lo sợ và thất vọng trong chính mình, chúng ta không thể loại bỏ những đau khổ trong xã hội.

Oprah: Bản chất của Phật giáo, như tôi hiểu, là tin rằng chúng ta đều tinh khiết và rạng rỡ tự bản chất. Thế nhưng, chúng ta thấy xung quanh rất nhiều bằng chứng rằng mọi người không hành động từ một nơi tinh khiết và rạng rỡ. Làm thế nào chúng ta hoà giải được những điều đó?

Nhất Hạnh: Vâng, hạnh phúc và đau khổ hỗ trợ lẫn nhau. Sống là sống-với (to be is to inter-be). Tựa như bên trái và bên phải. Nếu không có bên trái, sẽ chẳng có bên phải. Điều này cũng đúng với đau khổ và hạnh phúc, thiện và ác. Trong mỗi chúng ta đều có những hạt giống tốt và xấu. Chúng ta có hạt giống của tình anh em, tình yêu, lòng từ bi, sự thông hiểu. Nhưng chúng ta cũng có những hạt giống của giận dữ, căm thù, bất đồng.

Oprah: Đó là bản chất của con người.

Nhất Hạnh: Đúng. Có bùn và có hoa sen mọc trong bùn. Chúng ta cần bùn để tạo nên hoa sen.

Oprah: Không thể có thứ này mà không có thứ khác.

Nhất Hạnh: Phải vậy. Bạn chỉ có thể nhận ra hạnh phúc của mình nhờ vào sự khổ đau. Nếu không bị đói, mình sẽ không quý trọng việc có cái gì để ăn. Nếu không trải qua chiến tranh, mình không biết giá trị của hòa bình. Đó là lý do tại sao chúng ta không nên cứ chạy theo hết điều này đến điều khác. Hãy ôm lấy khổ đau khổ của mình, nhìn sâu vào đấy, chúng ta sẽ tìm được cách đến hạnh phúc.

Tìm hiểu về Bốn niệm chú mà Thích Nhất Hạnh xử dụng khi hành thiền

Oprah: Thầy có hành thiền mỗi ngày không?

Nhất Hạnh: Chúng tôi cố gắng không chỉ hành thiền mỗi ngày mà mọi lúc. Khi uống, khi nói, khi viết, khi tưới cây, có thể hành thiền trong cuộc sống ngay trong mọi lúc.

Oprah: Nhưng thầy có từng ngồi lặng lẽ một mình, niệm chú hay không niệm một thần chú nào?

Nhất Hạnh: Vâng. Chúng tôi ngồi một mình, chúng tôi cùng ngồi với nhau.

Oprah: Càng nhiều người cùng ngồi càng tốt hơn.

Nhất Hạnh: Đúng. Năng lượng tập thể là rất hữu ích. Tôi muốn nói về chú niệm mà bạn vừa đề cập. Câu đầu là "Em yêu, anh ở đây vì em." Khi bạn yêu một ai đó, điều tốt nhất mà mình có thể mang lại chính là sự hiện diện của mình. Làm sao ta có thể yêu thương nếu mình không ở đấy?

Oprah: Đó là một niệm chú đáng yêu.

Nhất Hạnh: Bạn hãy nhìn vào mắt họ và nói, "Em yêu, em có biết gì không? Anh đang ở đây vì em" Bạn mang đến cho người ấy sự hiện diện của mình. Bạn không bận tâm đến quá khứ hay tương lai; bạn ở đấy cho người mình thương yêu. Niệm chú thứ hai là, "Em yêu, anh biết em ở đấy và anh rất hạnh phúc" Bởi vì bạn hoàn toàn ở đấy, bạn nhận ra sự hiện diện của ngưoơi mình thương yêu như một cái gì đó rất quý giá. Bạn ôm lấy người thương của mình với chánh niệm. Và người đó sẽ nở ra như một đóa hoa. Được yêu thương có nghĩa là được nhìn nhận như một hiện hữu. Và hai niệm chú này có thể mang lại hạnh phúc ngay lập tức, ngay cả khi người yêu của bạn không ở đó. Bạn có thể sử dụng điện thoại và thực hành các niệm chú.

Oprah: Hoặc dùng e-mail.

Nhất Hạnh: Đúng, E-mail. Bạn không cần phải thực hành bằng tiếng Phạn hay tiếng Tây Tạng, bạn có thể thực hành bằng tiếng Anh.

Oprah: "Anh yêu, em ở đây vì anh".

Nhất Hạnh: Và em rất hạnh phúc. Niệm chú thứ ba là những gì bạn thực hiện khi người mình yêu thương bị đau khổ. "Em yêu, anh biết em đang đau khổ. Đó là lý do tại sao anh ở đây cho em..." Trước khi bạn làm điều gì đó để giúp đỡ, ngay sự hiện diện của bạn đã có thể mang lại một số an ủi.

Oprah: Sự nhìn nhận những đau khổ hay tổn thương.

Nhất Hạnh: Đúng thế. Và niệm chú thứ tư hơi khó hơn một chút. Đó là khi bạn bị đau khổ và bạn tin rằng sự đau khổ của bạn gây ra bởi người mình yêu thương. Nếu một ai khác đã làm điều gì sai quấy cho mình, bạn đã có thể ít khổ đau hơn. Nhưng đây lại chính là người mà mình yêu thương nhất, do đó bạn bị đau khổ vô cùng. Bạn muốn đi về phòng của mình đóng cửa lại và chịu đựng một mình.

Oprah: Đúng thế.

Nhất Hạnh: Bạn bị tổn thương. Và bạn muốn trừng phạt người ấy vì đã họ khiến bạn phải đau khổ. Câu niệm chú là để chế ngự điều ấy: "Em yêu, tôi đau khổ. Tôi đang cố gắng hết sức để tu tập... Xin hãy giúp đỡ tôi." Bạn hãy đến với cô ấy, với anh ấy, và thực hành điều đó. Và nếu bạn có thể tự mình đến để đọc niệm chú ấy, ngay lập tức, bạn sẽ vơi nhẹ khổ đau. Bởi vì bạn không có sự gì ngăn trở giữa bạn và người ấy.

Oprah: "Anh yêu, em đau khổ. Hãy giúp đỡ em."

Nhất Hạnh: "Hãy giúp em."

Oprah: Nếu người đó không sẵn lòng giúp mình?

Nhất Hạnh: Trước hết, khi bạn yêu một ai đó, bạn muốn chia sẻ mọi thứ với anh ta hoặc cô ta. Vì vậy, chính là nhiệm vụ của mình để nói rằng, "Tôi đau khổ và tôi muốn bạn biết", và anh ấy, cô ấy, sẽ trân trọng với điều đó.

Oprah: Nếu anh ấy, cô ấy yêu mình.

Nhất Hạnh: Đúng. Đây là trường hợp của hai người yêu nhau. Người mà mình yêu quý.

Oprah: Đúng quá.

Nhất Hạnh: "Và khi tôi đã cố gắng hết sức để nhìn sâu sắc, để xem có phải khổ đau này xuất phát từ nhận thức sai lầm của tôi và tôi có thể có khả năng biến đổi nó hay không, nhưng trong trường hợp này tôi không thể biến đổi nó, em nên giúp tôi, em yêu. Em nên cho tôi biết lý do tại sao em đã làm một điều như vậy với tôi, tại sao lại nói một điều như vậy với tôi". Bằng cách đó, bạn đã bày tỏ lòng trông cậy, sự tự tin của mình. Bạn không còn muốn trừng phạt nữa. Và đó là lý do tại sao ngay lập tức bạn đau khổ ít đi.

Thích Nhất Hạnh chia sẻ những gì ông biết chắc chắn

Oprah: Tuyệt vời. Bây giờ tôi xin hỏi thầy một số câu hỏi về thế giới tu hành. Thầy có tập thể dục để giữ dáng không?

Nhất Hạnh: Có. Chúng tôi có mười vận động chánh niệm. Chúng tôi đi thiền hành mỗi ngày. Chúng tôi thực hành ăn uống với chánh niệm.

Oprah: Thầy ăn chay?

Nhất Hạnh: Đúng thế. Ăn chay. Tuyệt đối chay tịnh. Chúng tôi không ăn các sản phẩm từ động vật nữa.

Oprah: Vậy là, thầy sẽ không ăn trứng.

Nhất Hạnh: Không trứng, không sữa, không phô mai. Bởi vì chúng tôi hiểu biết rằng ăn uống trong chánh niệm có thể cứu được hành tinh của chúng ta.

Oprah: Thầy có xem TV?

Nhất Hạnh: Không. Nhưng tôi vẫn sát gần với thế giới. Nếu có bất cứ điều gì thực sự quan trọng xảy ra, có người sẽ cho tôi biết.

Oprah: Tôi cảm thấy cách đó !

Nhất Hạnh: Mình không cần phải nghe tin tức ba lần một ngày hay đọc hết tờ báo này đến tờ báo khác.

Oprah: Đúng vậy. Thế cuộc đời của một nhà sư là một cuộc sống độc thân phải không?

Nhất Hạnh: Đúng thế.

Oprah: Thầy chưa từng bao giờ gặp khó khăn với ý tưởng từ bỏ hôn nhân hay con cái?

Nhất Hạnh: Một hôm khi ở độ tuổi 30, tôi đã thiền định trong một công viên ở Pháp. Tôi thấy một bà mẹ trẻ với một em bé xinh đẹp. Và trong một thoáng chớp tôi đã nghĩ rằng phải chi tôi không phải là một nhà sư, chắc tôi sẽ có một người vợ và một đứa trẻ như thế. Ý tưởng chỉ kéo dài trong một giây. Tôi vượt thắng ý tưởng ấy rất nhanh chóng.

Oprah: Đó không phải là cuộc sống dành cho thầy. Và nói về cuộc sống, cái chết thì ra sao? Điều gì xảy ra khi chúng ta chết đi, thầy có tin không?

Nhất Hạnh: Câu hỏi có thể được trả lời khi bạn có thể trả lời câu hỏi này: Điều gì sẽ xảy ra trong thời điểm hiện tại? Trong thời điểm hiện tại, bạn đang tạo ra các suy nghĩ, lời nói và hành động. Và chúng sẽ tiếp tục trên thế gian này. Mỗi suy nghĩ bạn tạo ra, bất cứ điều gì bạn nói, bất kỳ hành động mà bạn làm, đều mang chứng tích của bạn. Những hành vi này được gọi là nghiệp. Và đó là sự liên tục của bạn. Khi thân thể này hư hoại, bạn vẫn tiếp tục với những hành động của mình. Giống như đám mây trên bầu trời. Khi mây không còn trên bầu trời, nó đã không chết đi. Đám mây vẫn tiếp tục trong các hình tướng khác như mưa, tuyết hoặc băng. Bản chất của chúng ta là bản chất của sự không sinh không tử. Không thể khiến cho một đám mây vượt khỏi từ sự có sang sự không có. Và điều này thực đúng với một người mình yêu quý. Họ đã không chết. Họ đã tiếp tục trong nhiều hình tướng mới, và bạn có thể nhìn một cách sâu sắc và nhận ra họ trong chính bạn và xung quanh bạn.

Oprah: Có phải là đấy là điều thầy muốn nói khi thầy đã viết bài thơ “Hãy gọi tôi bằng tên thật của tôi” mà tôi hằng yêu thích không?

Nhất Hạnh: Phải. Khi bạn gọi cho tôi châu Âu, tôi nói phải. Khi bạn gọi cho tôi là Ả Rập, tôi nói phải. Khi bạn gọi cho tôi là đen, tôi nói phải. Khi bạn gọi cho tôi là trắng, tôi nói phải. Bởi vì tôi ở trong bạn và bạn đang ở trong tôi. Chúng ta phải ở được trong mọi thứ của vũ trụ.

Oprah: [đọc từ một bài thơ] "Tôi là loài phù du ẩn hiện trên mặt sông. Và tôi là loài chim, khi xuân về, kịp đến để ăn loài phù du... Tôi là đứa trẻ ở Uganda, toàn da bọc xương. Đôi chân tôi gầy teo như hai ống tre. Và tôi là người lái buôn vũ khí, bán những vũ khí giết người cho Uganda... Tôi là bé gái mười hai tuổi, nương thân trên chiếc xuồng nhỏ...Đã nhảy xuống đại dương sau khi bị hãm hiếp bởi một tên cướp biển, Và tôi là tên cướp biển, lòng tôi không biết nhìn và thương yêu... Xin hãy gọi tôi bằng tên thật của tôi để tôi có thể cùng nghe được tiếng khóc và tiếng cười của mình để tôi có thể nhìn thấy niềm vui và nỗi đau của mình là một...Xin hãy gọi tôi bằng tên thật của tôi, Để tôi có thể tỉnh dậy, để cánh cửa lòng tôi có thể được bỏ ngỏ , một cánh cửa của từ bi" Bài thơ đó có ý nghĩa là gì, thưa thầy?

Nhất Hạnh: Có nghĩa lòng từ bi của chúng ta là thực hành quan trọng nhất. Sự hiểu biết mang đến lòng từ bi. Hiểu những đau khổ mà chúng sinh trải qua sẽ giúp giải phóng năng lượng của từ bi. Và với năng lượng đó bạn sẽ biết mình phải làm gì.

Oprah: Được rồi. Ở phần cuối của tạp chí này, tôi sẽ có một cột mục mang tên là "Những gì tôi biết chắc". Vậy, những gì thầy biết chắc chắn?

Nhất Hạnh: Tôi biết chắc rằng chúng mình không biết đủ. Chúng ta phải tiếp tục học hỏi. Chúng ta phải mở ra. Và chúng ta phải sẵn sàng để buông thả những kiến thức của mình để đi đến được một hiểu biết cao hơn của thực tại. Khi bạn leo lên một bậc thang và bước đến bậc thứ sáu, và bạn nghĩ rằng đó là bậc cao nhất, thì bạn không thể đến được bậc thứ bảy. Thành ra kỹ thuật chính là buông bỏ bậc thang thứ sáu để bậc thứ bảy có thể trở nên khả thi. Và đấy là tu tập của chúng tôi, buông xả đi những quan điểm của mình. Lối thực hành về sự không vướng mắc vào quan điểm là trọng tâm của tu tập thiền định Phật giáo. Con người đau khổ là vì họ bị vướng kẹt trong các quan điểm, chúng ta tự do thì chúng ta sẽ không còn đau khổ nữa.

Oprah: Thế không có một truy tìm thực sự để được tự do sao?

Nhất Hạnh: Có. Để được tự do, trước hết, là được thoát khỏi những quan điểm sai lầm vốn là nền tảng của tất cả loại đau khổ, sợ hãi và bạo lực.

Oprah: Thật là một vinh dự được hầu chuyện với thầy hôm nay.

Nhất Hạnh: Xin cảm ơn. Một khoảnh khắc của hạnh phúc cũng có thể giúp ích mọi người.

Oprah: Tôi nghĩ sẽ như thế.

Hết

“Ảo ảnh chết người” của kinh tế Trung Quốc

2010-02-17

Trong khi nền kinh tế toàn cầu vẫn chưa hồi phục hoàn toàn sau khủng hoảng, thì nền kinh tế Trung Quốc lại đạt tốc độ tăng trưởng cao, thành tích này có dự báo điều bất thường?

AFP PHOTO/Frederic J. BROWN

Đồng đôla Mỹ và nhân dân tệ Trung Quốc.

Thời gian chuẩn bị đón Xuân Canh Dần, Trung Quốc công bố nhiều chỉ số thống kê ngoạn mục về tốc độ tăng trưởng và, lần thứ hai trong vòng một tháng, lại quyết định nâng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng nhằm ngăn chặn nguy cơ lạm phát.

Ảo ảnh

Trong khi thế giới vẫn e sợ suy trầm toàn cầu mà nền kinh tế này lại có triệu chứng nóng máy và có thể đạt tốc độ tăng trưởng sản xuất trên 10% vào năm 2010 thì tất nhiên là dư luận coi đó là điều đáng chú ý. Nhưng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa lại gọi đây là những "ảo ảnh chết người". Ông giải thích như sau, qua phần trao đổi cùng Việt Long trong tạp chí chuyên đề Diễn đàn Kinh tế.

Trở lại thực tế kinh tế thì tôi thiển nghĩ rằng các thống kê vừa qua cho thấy những ảo ảnh chết người của kinh tế Trung Quốc.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa.

Việt Long: Hôm Thứ Ba mùng hai tháng Hai, Trung Quốc thông báo kết cấu của tốc độ tăng trưởng kinh tế 8,7% trong năm 2009. Mười ngày sau thì họ quyết định tăng mức dự trữ pháp định của các ngân hàng nhằm kềm hãm lượng tín dụng và chặn trước nguy cơ lạm phát khi đà tăng trưởng sản xuất trong năm 2010 này có thể sẽ vượt 10%. Giữa bối cảnh suy trầm toàn cầu mà kinh tế Trung Quốc lại tăng trưởng quá 10% và lo ngại lạm phát thì rõ là xứ này đã vượt xa các nước khác. Điều ấy có đúng hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Sau khi ăn Tết xong và trở lại thực tế kinh tế thì tôi thiển nghĩ rằng các thống kê vừa qua cho thấy những ảo ảnh chết người của kinh tế Trung Quốc và người Việt Nam rất nên tìm hiểu về các ảo ảnh này. Trước khi trình bày chuyện ấy, tôi xin được nói thêm vài chi tiết khác cũng rất đáng chú ý.

Hôm 28 tháng Giêng, Cục Thống kê Quốc gia của Bắc Kinh loan báo nỗ lực cải cách phương thức thu thập và khai thác thống kê vì trong năm 2009 đã có 13.500 vụ đúc kết thống kê sai lạc. Đây là lần thứ tư mà Trung Quốc muốn cải tổ thống kê mà nhiều phần vẫn không có kết quả vì một lý do chính trị. Đó là vì mọi đảng viên cán bộ chỉ chịu trách nhiệm với thượng cấp ở trên hơn là với thuộc cấp ở dưới hay với dân chúng, cho nên họ đều có xu hướng tô hồng thống kê trong quản hạt trước khi đưa lên trên và ở trên cùng thì tổng kết thành con số ảo. Một thí dụ mà diễn đàn này đã trình bày từ năm ngoái là Tổng sản lượng kinh tế Trung Quốc vào năm 2007 lên tới ngạch số tương đương với hơn 3.600 tỷ Mỹ kim, trong khi nếu mà cộng lại kết số tổng sản lượng của tất cả các tỉnh và thành phố thì ta có con số khác, là 4.000 tỷ đô la, một mức sai biệt khổng lồ là 340 tỷ đô la, gần 10%. Khi độ sai lệch lại cao như thế thì ta nên trừ bì, là gia giảm, mức độ khả tín của thống kê Trung Quốc.

Thứ hai, mùng hai tháng Hai vừa qua, cơ quan quốc tế thẩm định giá trị tín dụng là hãng Fitch đã hạ thấp mức điểm của hai ngân hàng Trung Quốc và giải thích là trình độ quá bất trắc của các ngân hàng khi ào ạt bơm tín dụng và cho vay theo diện chính sách nên ngân hàng thiếu vốn và rủi ro tín dụng gia tăng. Thực tế thì lượng tín dụng ngân hàng tại Trung Quốc đã tăng hơn 30% trong năm 2009 và xứ này là nơi có bong bóng đầu cơ lớn nhất trong các nước Á châu.

Nhiều tòa nhà được xây dựng mới ở Bắc Kinh, Trung Quốc. AFP Photo.
Nhiều tòa nhà được xây dựng mới ở Bắc Kinh, Trung Quốc. AFP Photo.
Trái bóng địa ốc có thể sẽ bể, là điều diễn đàn này cũng đã nói tới trong chương trình ngày 13 tháng Giêng.

Thứ ba, hôm mùng một tháng Hai, Thủ tướng Ôn Gia Bảo đã phát biểu rằng Trung Quốc đang gặp nhiều bất trắc trên các thị trường quốc tế mà ở nhà thì lại bị các vấn đề thất quân bình và phát triển không bền vững. Khi ấy, ta mới để ý đến sự kiện các giới chức lãnh đạo Bắc Kinh đều lên tiếng báo động về nhiều vấn đề trong nội bộ để chuẩn bị thảo luận tại Hội nghị Hiệp thương Chính trị rồi Đại hội Đại biểu Quốc hội vào các ngày mùng ba và mùng năm của tháng tới. Nói chung thì lãnh đạo xứ này ưu lo về tình hình kinh tế, xã hội và chính trị nhiều hơn là dư luận bên ngoài thường nghĩ vì họ thấy ra những ảo ảnh sinh tử của chế độ.

Xuất khẩu “âm”

Việt Long: Nếu vậy thì xin ông trình bày trước tiên điều ông gọi là ảo ảnh trong đà tăng trưởng kinh tế Trung Quốc là 8,7% vào năm 2009. Con số này thật ra rất lớn nếu ta so sánh với Hoa Kỳ chẳng hạn, là siêu cường, chỉ đạt tốc độ có 0,8% mà thôi.

Nguyễn Xuân Nghĩa: Tốc độ 8,7% trong một năm suy trầm toàn cầu và nối tiếp tốc độ 9% của năm 2008 thì quả nhiên là con số đầy ấn tượng! Nhưng khi đi vào chi tiết ta thấy ngay sự thật u ám nằm bên dưới. Đà tăng trưởng bình quân 8,7% này là kết số của ba thành tố gồm có đầu tư là 8%, tiêu thụ là 4,6% và xuất khẩu là -3,9%. Nôm na là 8,7% = 8% + 4,6% - 3,9%.

Xưa nay, xuất khẩu vẫn là đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc mà bây giờ lại đóng góp một số âm cho đà tăng trưởng, là -3,9%, mà tiêu thụ chỉ có 4,6% nên không bù đắp nổi. Vì vậy, nhà nước nhảy vào cấp cứu như bơm nước biển đề hồi sinh một cơ thể rũ liệt. Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng rồng cọp của Trung Quốc thực tế lệ thuộc tới 92% (là 8% của tổng số 8,7%) vào đầu tư của khu vực công. Không có đầu tư của nhà nước là chẳng có tăng trưởng.

Xưa nay, xuất khẩu vẫn là đầu máy tăng trưởng của Trung Quốc mà bây giờ lại đóng góp một số âm cho đà tăng trưởng, là -3,9%, mà tiêu thụ chỉ có 4,6% nên không bù đắp nổi.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa.

Việt Long: Chúng ta đều biết khi kinh tế bị suy trầm thì xứ nào cũng phải tìm cách kích thích. Hoặc là qua hạ lãi suất hay in tiền bơm vào kinh tế, hoặc qua tăng chi hay giảm thuế, chủ yếu là để bù đắp cho sự thiếu hụt tiêu thụ của tư nhân. Nếu vậy thì lãnh đạo Bắc Kinh cũng áp dụng các biện pháp bình thường ấy, thế thì vì sao ông lại gọi là ảo ảnh?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Chuyện ấy không bình thường vì nhà nước mà không đẩy là cỗ xe sẽ dừng mà kinh tế Trung Quốc lại như cỗ xe đạp, nếu không lăn bánh là sẽ đổ vì thất nghiệp tăng và động loạn xã hội sẽ bùng nổ.

Đã thế Trung Quốc lại có hệ suất đầu tư rất tệ, tức là phải đầu tư rất nhiều thì mới sản lượng mới tăng được một đơn vị. Người ta hay dùng "chỉ số đầu tư phụ trội" gọi tắt theo Anh ngữ là ICOR để đo lường hệ suất ấy. Thí dụ như nếu xứ nào phải đầu tư ba đơn vị mới gia tăng sản lượng được một đơn vị thì có chỉ số Incremental Capital Output Ratio bằng số ba. Nếu đầu tư bằng 5% của tổng sản lượng với một chỉ số ICOR là 3 chẳng hạn thì sản lượng sẽ tăng được năm chia cho ba, bằng 1,66%. Suy ngược lại, khi sản lượng Trung Quốc tăng 8,7% là nhờ đầu tư tới 92% tổng sản lượng GDP thì chỉ số ICOR của xứ này phải là 10,6, là một hệ suất đầu tư thật tốn kém vì quá lớn!

Chẳng những vậy, nếu nhìn kỹ hơn thì... lượng biến thành phầm, và phẩm chất rất tồi. Trung Quốc thường chủ động bơm tiền qua hai ngả công chi và tín dụng, rồi gọi đó là đầu tư. Nhưng chủ yếu là nhà nước cấp phát tín dụng cho doanh nghiệp nhà nước, gọi là thuộc diện chính sách, và cho các dự án xây dựng thuộc phạm vi phân bố và chia chác của địa phương. Tất cả để duy trì khả năng sản xuất và chính yếu là tuyển dụng để tránh nạn thất nghiệp và động loạn xã hội. Nhưng hệ thống ống bơm ấy lại... theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nó bơm vào nơi úng thủy và thổi lên bong bóng đầu tư.

Hậu quả xã hội của chế độ kinh tế ấy là hình thức tái phân lợi tức, và lại tái phân phối trước tiên cho một thiểu số có chức có quyền. Người dân lầm than thì chỉ còn một ngả là hỳ hục ráp chế hàng xuất cảng để kiếm được chút tiền vụn ở dưới. Khả năng tiêu thụ rất thấp - chỉ có 4,6% - phản ảnh điều ấy. Vì thế ta cần nhìn ra cái chất ảo của đà tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

Lạm phát?

Bảng hiệu ngân hàng Trung Quốc. AFP PHOTO.
Bảng hiệu ngân hàng Trung Quốc. AFP PHOTO.
Việt Long:
Tuy nhiên, vì sao lãnh đạo xứ này lại e sợ lạm phát đến nỗi phải hạn chế tín dụng. Nếu hạn chế tín dụng thì làm sao còn có tăng trưởng theo lối đẩy xe đạp như ông vừa nói?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Đây lại là một ảo ảnh khác của kinh tế Trung Quốc.

Sau khi tiến hành cải cách từ ba chục năm trước, Trung Quốc quả là đã bị ba trận lạm phát. Đó là vào năm 1985 với vật giá tăng 10%; rồi vào năm 1988-1989 khi vật giá tăng 20% và gây khủng hoảng chính trị với vụ tàn sát Thiên an môn ngày bốn tháng Sáu năm 1989 khiến mấy ngàn người bị giết; rồi vào năm 1993-1994 với giá cả tăng vọt đến 25%. Rút kinh nghiệm kinh tế và chính trị của quá khứ, lãnh đạo Bắc Kinh rất e sợ lạm phát....

Việt Long: Chúng tôi nhớ lại là từ những năm 2003 rồi 2005, ông thường báo động là kinh tế Trung Quốc có thể bị nóng máy và đã có lúc quyết định cấm cho vay trong nhiều tháng liền mà sau đó, lạm phát vẫn không bùng nổ. Dường như là sau đợt lạm phát 1993-1994, cấu trúc kinh tế xứ này có thay đổi nên có khi bị giảm phát chứ hết bị lạm phát rồi. Điều ấy có đúng không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa điều ấy rất đúng vì cơ cấu kinh tế đã có thay đổi.

Thời Mao Trạch Đông, thành phần doanh nghiệp nhà nước chiếm tới 90% tổng sản lượng GDP. Qua thời cải cách từ năm 1979 về sau, doanh nghiệp nhà nước được giải phóng trong đầu tư và được các ngân hàng cũng của nhà nước tài trợ tín dụng rất dồi dào để bành trướng thị phần và tuyển dụng thêm công nhân viên, từ 78 triệu lên 100 triệu người.

Nhưng, ách tắc trong cơ chế đã khiến số cung bị hạn chế mà số cầu gia tăng nhờ tín dụng và lương bổng nên mới gây nhiều đợt lạm phát. Nạn tham nhũng trong khu vực nhà nước và vật giá gia tăng trên đầu người dân mới dẫn tới khủng hoảng chính trị. Sau đấy, cơ chế sản xuất có thay đổi và thực tế là có cải thiện mới dẫn tới thời kỳ ta có thể gọi là sản xuất thừa và chất vào kho. Vì vậy, đúng là người ta có chứng kiến hiện tượng giảm phát hơn là lạm phát như ông vừa nói. Giảm phát là khi hàng họ giảm giá mà bán vẫn không chạy chính là vì hiện tượng sản xuất thừa và gây ra ấn tượng tăng trưởng cao.

Vì thật ra xứ này vẫn có những lệch lạc trong cơ chế nên lãnh đạo của họ vẫn sợ lạm phát bùng nổ từ ba khu vực, đó là năng lượng, địa ốc và nhất là lương thực.

Ô. Nguyễn Xuân Nghĩa.

Việt Long: Thế thì vì sao bây giờ lãnh đạo Bắc Kinh lại sợ lạm phát?

Nguyễn Xuân Nghĩa: Vì thật ra xứ này vẫn có những lệch lạc trong cơ chế nên lãnh đạo của họ vẫn sợ lạm phát bùng nổ từ ba khu vực, đó là năng lượng, địa ốc và nhất là lương thực.

Thứ nhất về năng lượng thì Trung Quốc áp dụng chế độ kiểm soát giá cả để dân chúng khỏi bị khốn đốn vì giá xăng dầu hay khí đốt, nhất là trong hai năm 2007 và 2008 khi giá năng lượng và thương phẩm tăng vọt trên thế giới. Nhưng chính là chế độ kiểm soát mới gây ra nhiều lệch lạc trên thị trường, thứ nhất là vì doanh nghiệp về năng lượng không muốn bị lỗ khi nhập vào với giá cao và bán ra với giá quy định của nhà nước; và thứ hai là vì giá năng lượng được trợ cấp nên giới tiêu thụ khỏi cần tần tiện. Tình trạng lệch lạc ấy gây rất nhiều tốn kém kinh tế nhưng là cái giá mà nhà nước phải trả để khỏi gặp động loạn và họ canh chừng giá năng lượng rất kỹ.

Thứ hai, vì đất đai thuộc quyền sở hữu của toàn dân nhưng do nhà nước thống nhất quản lý và Trung Quốc là một xứ rất rộng mà lại thiếu đất canh tác, chỉ bằng một phần ba của bình quân của thế giới. Chế độ quản lý của nhà nước dẫn tới nạn bóc lột nông dân và khiếu kiện về đất đai khi ngân sách thuế khóa của các tỉnh lại thu được bình quân là 40% nhờ bán quyền sử dụng đất. Cũng vì mối lợi của đảng viên cán bộ ở địa phương cho nên xứ này cứ hay bị nạn bong bóng đầu cơ về địa ốc. Mặc dù mới đây, Quốc vụ viện tức là Hội đồng Chính phủ vừa rà lại đạo luật về đất đai để tránh nạn cướp đất và không bồi thường thỏa đáng, nhưng bất ổn xã hội vẫn còn nguyên vẹn vì luật lệ sẽ khó được đảng viên cán bộ áp dụng nghiêm chỉnh.

Thứ ba và quan trọng nhất, Trung Quốc là nơi mà người dân thường thiếu ăn vì có diện tích canh tác rất hẹp cho một dân số quá đông nên lương thực là yếu tố thổi bùng chỉ số giá cả. Thiên tai hay dịch bệnh cũng sẵn sàng ảnh hưởng tới sản lượng lương thực mà lương thực lại chiếm tới một phần ba ngân sách chi tiêu của các hộ gia đình, nên giá mà tăng là dân sẽ khổ và nổi loạn.

Cho nên, nếu có nhìn ra nguy cơ động loạn ấy từ chuyện vật giá và lồng trong khung cảnh của một nền kinh tế không có kích thích là sản xuất đình đọng và thất nghiệp sẽ tăng thì ta mới thấy ra ảo ảnh phồn vinh và phú cường của xứ này.

Đàn ông Trung Quốc hướng sang Việt Nam để tìm ‘người vợ lý tưởng’

CNN

Đối mặt với tình trạng khan hiếm cô dâu ở trong nước, đàn ông Trung Quốc đang hướng về phương nam để tìm những người bạn đời vui vẻ và ít tốn kém.

Xing Zhao

Ngày 19-2-2010


Tin tức cho biết rằng Trung Quốc sẽ là nơi mà 24 triệu đàn ông độc thân dư thừa không kiếm được vợ vào năm 2020 đã gây ra một nỗi hốt hoảng không phải là nhỏ đối với số đàn ông trẻ tuổi của đất nước này. Và như những gì thường xảy ra trong thời khủng hoảng, lời quảng bá cho một phương thuốc thần kỳ, chữa lành tất cả các bệnh về hôn nhân, một phương thuốc chữa bách bệnh dành cho những người độc thân đang lo âu ở Trung Quốc, đã được lan rất nhanh như là một đám cháy được đổ dầu trên mạng, kích thích thói dâm dục và nỗi thèm khát.

Từ câu chuyện lo lắng về hôn nhân của nam giới ở Trung Quốc đã sinh ra huyền thoại về người vợ lý tưởng, người vợ có thực ở một nơi không xa, mà chi phí không quá cao. Với giá 35.000 nhân dân tệ, bạn cũng có thể làm người đàn ông hãnh diện đứng bên cạnh cô vợ trẻ, xinh đẹp và biết phục tùng, và mọi thủ tục chỉ trong vòng 3 tháng. Miền đất hứa này là Việt Nam và câu chuyện huyền thoại này đã là đề tài nóng trong hầu hết mọi trang web chính và diễn đàn trực tuyến ở Trung Quốc.

Câu chuyện thậm chí còn truyền cảm hứng cho một số đàn ông Trung Quốc thích phiêu lưu mạo hiểm, thực hiện những chuyến đi tới đất nước láng giềng của họ, đến nỗi tin chắc rằng những nỗi khao khát hôn nhân của họ sẽ được thỏa mãn tại đó.

Có điều tại sao lại là Việt Nam, và liệu câu chuyện đó có là sự thật?

Câu chuyện được bắt đầu với những sự thực đã được xác minh. Trung Quốc hiện có số người độc thân nam nhiều hơn nữ là 18 triệu. Một cuộc khảo sát trực tuyến có tên gọi là “Bạn có lo lắng về việc tìm kiếm một người bạn đời không?” đã tiến hành trên trang QQ.com, tiết lộ là 7.817 người trong tổng số 18.800 (chiếm 42%) được hỏi lo lắng rằng họ không thể lập gia đình. Rõ ràng vấn đề hôn nhân luôn ở trong tâm trí mọi người.

Những sức quyến rũ từ Việt Nam

Thế rồi, những lời đồn đại tồn tại trên không gian ảo đã dội trở lại và được thêm bớt, làm cho những người đàn ông Trung Quốc có ấn tượng sai lầm rằng Việt Nam đang liên tục ở trong tình trạng thay đổi, và rằng tỉ lệ giới tính nam nữ của nước này là ba người đàn ông thì có năm người phụ nữ. Những bài báo trên mạng miêu tả nước này như là một vùng đất trong cảnh khốn cùng, có những cô gái xinh đẹp ao ước có một cuộc sống ở Trung Quốc. Thêm nữa, là quảng cáo của các công ty môi giới hôn nhân phóng đại về việc đàn ông Trung Quốc độc thân ao ước một người vợ Việt Nam. Họ bảo đảm cô gái sẽ còn trinh, sẽ lấy bạn trong vòng ba tháng, và nếu như cô dâu của bạn bỏ trốn, họ cũng bảo đảm kiếm một cô khác thay thế.

Những chi tiết này được giải thích cặn kẽ trong các bài viết trên mạng trực tuyến. Một bài viết được đưa lên mạng Xici Hutong mô tả những cô gái Việt Nam tìm cách lấy người nước ngoài để thoát khỏi tình trạng nghèo đói ra sao. “Trong một chuyến đi của tôi tới Việt Nam, hướng dẫn viên người địa phương của chúng tôi, một cô gái Việt Nam 26 tuổi, đã bảo tôi rằng ước mơ của cô là lấy một người đàn ông Trung Quốc”, một anh chàng đã viết như vậy trong một bài báo. “Ở miền bắc Việt Nam, đàn ông có thể có vài vợ. Phụ nữ có vị trí rất thấp kém trong gia đình họ. Tất cả các cô gái xinh đẹp phải làm việc rất cực nhọc ngoài đồng cho tới già. Cho nên họ thực sự muốn lấy người Trung Quốc”.

Bài báo cũng khoác lác về chuyện Việt Nam phục vụ cho ngành du lịch của Trung Quốc ra sao. “Người dân Việt Nam biết Lãnh tụ Mao thích thịt lợn hầm, cho nên tất cả các nhà hàng lớn ở Việt Nam đều phục vụ món thịt lợn hầm”.

Cư dân mạng có tên là Hai Dao từ Dalian đã bình luận, “Là một thủy thủ, tôi đã tới Việt Nam nhiều lần. Xứ này rất nghèo khổ. Phụ nữ Việt Nam muốn lấy đàn ông Trung Quốc như là phụ nữ Trung Quốc muốn lấy người Mỹ. Khi tôi ở đó vào năm 2000, chỉ mất có 500 nhân dân tệ là cưới được một người phụ nữ Việt Nam”.

Những gì mà các cô gái Trung Quốc không có

Cuối cùng là các quảng cáo trên mạng đã thuyết phục họ là những điều kiện căn bản này đã sinh ra những người phụ nữ truyền thống, không phải tốn nhiều tiền để chăm sóc và có nét quyến rũ kín đáo. Da Hui Lang từ Quảng Châu nói là bản chất “dịu dàng và ngoan ngoãn” của các cô gái Việt Nam tỏ ra hấp dẫn. “Điều đó có giá trị hơn nhiều những cô gái Trung Quốc chỉ muốn có tiền thôi”.

Vấn đề tiền bạc và tài chính là vấn đề quan tâm nhất đối với những người ở độ tuổi từ 20 cho tới ngoài 30 tìm người lập gia đình ở Trung Quốc ngày nay, đặc biệt là ở Thượng Hải.

Công dân mạng tên Shen Me Mian Dai cũng nghĩ rằng quá khó để cưới được các cô gái Trung Quốc. “Các cô gái Trung Quốc đòi hỏi quá nhiều ở người đàn ông, và họ không còn coi trọng tiêu chuẩn làm việc cần cù và tốt bụng nữa. Cho nên đàn ông phải sang Việt Nam để tìm kiếm những người phụ nữ với các tiêu chuẩn này”.

Đặt tất cả những điều này lại với nhau, và câu chuyện cổ tích về người vợ Việt Nam hoàn hảo không chỉ được sinh ra, mà còn được nuôi dưỡng.


Hiệu đính: Ngọc Mai

Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2010

Danh sách Blog của Tôi